Buddha.com.vn

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BA

13/01/2016

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BA Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh PHẨM KHUYẾN HỌC THỨ TÁM Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát muốn đầy đủ Đàn na ba la mật thời p...

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BA
Phần 1

KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT - QUYỂN THỨ BA
Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Tỳ kheo Thích Trí Tịnh
PHẨM KHUYẾN HỌC THỨ TÁM

Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát muốn đầy đủ Đàn na ba la mật thời phải học Bát nhã ba la mật, muốn đầy đủ Thi la ba la mật, sằn đề ba la mật, Tỳ lê gia ba la mật, Thiền na ba la mật và Bát nhã ba la mật thời phải học Bát nhã ba la mật.
Đại Bồ Tát muốn biết ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới, muốn biết nhãn xúc cùng nhãn xúc làm nhân duyên sinh ra thọ, nhẫn đến ý xúc làm nhân duyên sinh ra thọ, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Đại Bồ Tát muốn dứt tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, giới thủ, các thứ tâm sở phiền não, thời phải học Bát nhã ba la mật. Muốn dứt tứ phược, tứ kiến, tứ điên đảo, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Đại Bồ Tát muốn biết thập thiện, tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, tứ niệm xứ nhẫn đến mười tám pháp bất cộng, đều phải học Bát nhã ba la mật.
Đại Bồ Tát muốn nhập giác ý tam muội, muốn nhập lục thần thông, muốn nhập cửu thứ đệ định, muốn nhập siêu việt tam muội, đều phải học Bát nhã ba la mật.
Đại Bồ Tát muốn được sư tử du hí tam muội, sư tử phấn tấn tam muội, muốn được tất cả môn đà la ni, muốn được thủ lăng nghiêm tam muội, bửu ấn tam muội, diệu nguyệt tam muội, nguyệt tràng tướng tam muội, nhất thiết pháp ấn tam muội, quán ấn tam muội, tất pháp tính tam muội, tất trụ tướng tam muội, như kim cang tam muội, nhập nhất thiết pháp môn tam muội, tam muội vương tam muội, vương ấn tam muội, tịnh lực tam muội, cao xuất tam muội, tất nhập nhất thiết biện tài tam muội, nhập chư pháp danh tam muội, quán thập phương tam muội, chư đà la ni môn ấn tam muội, nhật thiết pháp bất vong tam muội, nhiếp nhất thiết pháp tụ ấn tam muội, hư không trụ tam muội, tam phần thanh tịnh tam muội, bất thối thần thông tam muội, xuất bát tam muội, chư tam muội tràng tướng tam muội, đều phải học Bát nhã ba la mật.
Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát muốn thỏa mãn nguyện vọng của tất cả chúng sinh thời phải học Bát nhã ba la mật.
Muốn được đầy đủ những thiện căn sau đây: thường chẳng đọa vào ác đạo, chẳng sinh nhà ti tiện, chẳng ở trong hàng Thanh Văn, Bích Chỉ Phật, chẳng sa vào Bồ Tát đảnh, thời phải học Bát nhã ba la mật”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Thế nào là sa vào Bồ Tát đảnh?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Nếu đại Bồ Tát chẳng dùng pháp phương tiện mà thật hành sáu ba la mật nhập không, vô tướng vô tác tam muội, chẳng sa vào hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật, cũng chẳng nhập Bồ Tát vị, đây gọi là đại Bồ Tát pháp ái sinh, vì thế nên sa vào Bồ Tát đảnh".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Thế nào gọi là Bồ Tát sinh?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Sinh gọi là pháp ái?".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Những gì là pháp ái?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật, sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không, là vô tướng, là vô tác, là tịch diệt, là vô thường, là khổ, là vô ngã, Bồ Tát nhẫn thọ ghi nhớ nắm giữ nơi đây, thời gọi là thuận đạo pháp ái sinh.
Đây là khổ phải biết, đây là tập phải dứt, đây là diệt phải chứng, đây là đạo phải tu pháp này cấu, pháp này tịnh, nên gần pháp này, chẳng nên gân pháp này, chỗ này nên làm, chỗ này chẳng nên làm, đây là Bồ Tát đạo, đây chẳng phải Bồ Tát đạo, đây là chỗ học của Bồ Tát, đây chẳng phải chỗ học của Bồ Tát, đây là Đàn na ba la mật nhẫn đến Bát nhã ba la mật của Bồ Tát, đây chẳng phải sáu pháp ba la mật của Bồ Tát, đây là phương tiện của Bồ Tát, đây chẳng phải phương tiện của Bồ Tát, đây là chỗ thành thục của Bồ Tát, đây chẳng phải chỗ thành thục của Bồ Tát. Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, nếu đại Bồ Tát nhẫn thọ ghi nhớ nắm giữ những pháp trên đây thời gọi là thuận đạo pháp ái sinh”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Thế nào là Bồ Tát bất sinh?”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Đại Bồ Tát lúc thật hành Bát nhã ba la mật, trong nội không chẳng thấy ngoại không, trong ngoại không chẳng thấy nội không, trong ngoại không chẳng thấy nội ngoại không, trong nội ngoại không chẳng thấy ngoại không, trong nội ngoại không chẳng thấy không không, trong không không chẳng thấy nội ngoại không, trong đại không chẳng thấy không không, trong đại không chẳng thấy đệ nhất nghĩa không, trong đệ nhất nghĩa không chẳng thấy đại không, trong đệ nhất nghĩa không chẳng thấy hữu vi không, trong hữu vi không chẳng thấy đệ nhất nghĩa không, trong hữu vi không chẳng thấy vô vi không, trong vô vi không chẳng thấy hữu vi không, trong vô vi không chẳng thấy tất cánh không, trong tất cánh không chẳng thấy vô vi không, trong tất cánh không chẳng thấy vô thi không, trong vô thỉ không chẳng thấy tất cánh không, trong vô thỉ không chẳng thấy tán không, trong tán không chẳng thấy vô thỉ không, trong tán không chẳng thấy tính không, trong tính không chẳng thấy tán không, trong tính không chẳng thấy chư pháp không, trong chư pháp không chẳng thấy tính không, trong chư pháp không chẳng thấy tự tướng không, trong tự tướng không chẳng thấy chư pháp không, trong tự tướng không chẳng thấy vô sử đắc không, trong VÔ sở đắc không chẳng thấy tự tướng không, trong vô sử đắc không chẳng thấy vô pháp không, trong vô pháp không chẳng thấy vô sử đắc không, trong vô pháp không chẳng thấy hữu pháp không, trong hữu pháp không chẳng thấy vô pháp không, trong hữu pháp không chẳng thấy vô pháp hữu pháp không, trong vô pháp hữu pháp không chẳng thấv hữu pháp không.
Như trên đây là Bồ Tát bất sinh, là được nhập Bồ Tát vị.
Này Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn học Bát nhã ba la mật phải học thế này: Chẳng nghĩ nhớ ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới, chẳng nghĩ nhớ sáu ba la mật nhẫn đến mười tám pháp bất cộng.
Lúc được những tâm này, tâm vô đẳng đẳng, đại tâm, đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật chẳng nên nghĩ nhớ, chẳng nên tự đắc.
Tại sao vậy? Vì tâm này chẳng phải tâm, vì tâm tướng vốn là thường tịnh vậy".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Thế nào là tâm tính thường thanh tịnh?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: “Bồ Tát biết rõ tâm tướng cùng với tham, sân, si, tất cả kiết sử, phiền não vốn chẳng hiệp, chẳng lý nhau, với tâm Thanh Văn, tâm Bích Chi Phật vốn chẳng hiệp, chẳng lý nhau. Đây gọi là Bồ Tát tâm tướng thường thanh tịnh".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: “Có cái tâm không tâm tướng này chăng?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Trong tâm không tướng này có thể được những tướng hữu tâm cùng tướng vô tâm chăng?".
Ngài Xá Lợi Phất nói: "Chằng thể được".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Nếu là chẳng thể được hời chẳng nên hỏi có cái tâm không tâm tướng chăng".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Những gì là không tâm tướng?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Với các pháp, chẳng hư hoại, chẳng phân biệt, đây gọi là không tâm tướng".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Chỉ có tâm này chẳng hư hoại, chẳng phân biệt, còn sắc nhẫn đến Phật đạo có là cũng chẳng hư hoại, chẳng phân biệt chăng?".
Ngài Tu Bồ Đề nói:, "Nếu có thể biết tam tướng chẳng hư hoại, chẳng phân biệt, thời cũng có thể biết sắc nhẫn đến Phật đạo cũng chẳng hư hoại, chẳng phân biệt".
Phần 2
Ngài Xá Lợi Phất tán thán: "Lành thay, lành thay! Tu Bồ Đề là chân Phật tử từ miệng Phật mà sinh, từ thấy pháp mà sinh, từ pháp hóa sinh, lấy được pháp phần, chẳng lấy tài phần. Trong chính pháp tự tin thân được chứng. Đúng như lời đức Phật từng khen ông là bậc nhất trong những người được vô tránh tam muội.
Đại Bồ Tát phải học Bát nhã ba la mật như vậy. Trong đây cũng phải biết rõ Bồ Tát đúng như lời ông đã nói mà thật hành, thời chẳng rời Bát nhã ba la mật.
Những thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn học bậc Thanh Văn cũng phải nghe Bát nhã ba la mật để thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ, thực hành. Người muốn học bậc Bích Chi Phật cũng phải nghe Bát nhã ba la mật để thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ, thật hành. Người muốn học bậc Bồ Tát cũng phải nghe Bát nhã ba la mật để thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ, thực hành.
Tại sao vậy? Vì trong Bát nhã ba la mật nói rộng về tam thừa, nên Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật đều phải học”.

PHẨM TẬP TÁN THỨ CHÍN

Ngài Tu Bồ Đề bạch đức Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Con chẳng cảm thấy cũng chẳng được gì là Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật, thời sẽ vì ai mà giảng thuyết Bát nhã ba la mật?
Bạch đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được tất cả các pháp tập hợp rời tan, nếu con vì Bồ Tát mà gọỉ tên là Bồ Tát có thể con sẽ hối hận.
Bạch đức Thế Tôn! Tên gọi ấy chẳng an trụ cũng chẳng phải chẳng an trụ. Tại sao vậy? Vì tên gọi vốn vô sở hữu. Vì thế tên gọi ấy chẳng trụ cũng chẳng phải chẳng trụ.
Bạch đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được sắc nhẫn đến thức, nhãn nhẫn đến ý, sắc nhẫn đến pháp, nhẫn thức nhẫn đến ý thức, nhãn xúc nhẫn đến ý xúc, nhân duyên, sinh thọ, con cũng chẳng thấy được vô minh nhẫn đến lão tử hợp tan, vô minh diệt nhẫn đến lão tử hợp tạn, vô minh diệt nhẫn đến lão tử diệt hợp tan. Nếu đã là chẳng thấy được thời thế nào lại đặt tên. Thế nên tên gọi chẳng trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ. Tại sao vậy? Vì tên gọi vô sở hữu vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được tham, sân, si các phiền não, kiết sử hợp tan, chẳng thấy được sáu ba la mật đến mười tám pháp bất cộng tập hợp rời tan, thời thế nào sẽ đặt tên gọi là Bồ Tát. Tên gọi này chẳng an trụ chẳng phải chẳng an trụ. Tại sao vậy? Vì tên gọi vô sử hữu vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được ngũ ấm hợp tan như mộng, như bóng, như vang, như dương diêm, như biến hóa.
Con chẳng được rời hợp tan, cùng tịch diệt, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh hợp tan.
Con chẳng được pháp tính, thiệt tế, pháp tướng, pháp vị hợp tan.
Con chẳng được những pháp thiện, pháp bất thiện hợp tan.
Con chẳng được những pháp hữu vi, vô vi, hữu lậu, vô lậu hợp tan.
Con chẳng được những pháp quá khứ, vị lai, hiện tại hợp tan.
Con chẳng được những pháp chẳng quá khứ, chẳng vị lai, chẳng hiện tại hợp tan.
Những gì là pháp chẳng quá khứ, chẳng vị lai, chẳng hiện tại? Chính là pháp vô vi vậy;
Bạch đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được pháp vô vi hợp tan. Chẳng thấy được Phật hợp tan, cũng chẳng thấy được hằng sa Phật quốc, chư Phật và Bồ Tát cùng Thanh Văn, Bích Chi Phật hợp tan. Vì đều vô sở hữu nên chẳng trụ, chẳng phải chẳng trụ.
Như thế thời thế nào sẽ có thể giáo Bồ Tát về Bát nhã ba la mật.
Bạch đức Thế Tôn! Danh tự Bồ Tát đây chẳng an trụ, cũng chẳng phải chẳng an trụ. Tại sao vậy? Vì danh tự này vô sở hữu vậy, thế nên chẳng trụ, cũng chẳng phải chẳng an trụ.
Bạch đức Thế Tôn! Con chẳng thấy được chư pháp thiệt tướng hợp tan thời thế nào đặt tên cho Bồ Tát mà gọi là Bồ Tát. Danh tự thiệt tướng của các pháp chẳng trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ. Vì danh tự này vô sở hữu, Thế nên danh tự chẳng trụ, cũng chẳng phải chẳng an trụ.
Bạch đức Thế Tôn! Các pháp do nhân duyên hòa hợp mà có giả danh thi thiết. Danh tự Bồ Tát trong ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới nhẫn đến trong mười tám pháp bất cộng đều bất khả thuyết, ở trong pháp hòa hợp cũng là bất khả thuyết.
Ví như mộng, ảnh, hưởng, diêm, hóa trong các pháp, đều bất khả thuyết.
Ví như danh tự hư không, địa, thủy, hỏa, phong cũng chỉ có thể nói trong không có pháp.
Danh tự của giới, tam muội, trí huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, danh tự của Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật cũng chỉ có thể nói trong không có pháp.
Danh tự của Phật, của Pháp cũng chỉ có thể nói trong không có pháp. Những pháp là thiện, bất thiện, thường, vô thường, khổ, lạc, ngã vô ngã, tịch diệt, ly, hữu, vô.
Bạch đức Thế Tôn! Vì thế nên lòng con sẽ hối hận nếu con đạt danh tự Bồ Tát mà gọi là Bồ Tát, vì tướng hợp tan của tất cả pháp đều bất khả đắc. Danh tự ấy chẳng trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ, vì là vô sở hữu vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát nghe nói tướng và nghĩa của Bát nhã ba la mật như vậy mà tâm chẳng trăm một, chẳng hối tiếc, chẳng kinh, chẳng sự, thời phải biết Bồ Tát này quyết định an trụ trong tính bất thối chuyển, vì chẳng an trụ nơi các pháp vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát muốn thật hành Bát nhã ba la mật, chẳng nên an trụ trong ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới, chẳng nên an trụ trong sáu đại chúng, thập nhị nhân duyên.
Tại sao vậy? Vì sắc và sắc tướng là không nhẫn đến lão tử và tướng lão tử là không.
Sắc không nhẫn đến lão tử không chẳng gọi là sắc nhẫn đến chẳng gọỉ là lão tử. Rời ngoài không cũng cũng không có sắc, nhẫn đến rời ngoài không cũng không có lão tử. sắc tức là không, không tức là sắc. Nhẫn đến lão tử tức là không, không tức là lão tử.
Vì lẽ trên đây nên lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng nên an trụ trong sắc, nhẫn đến chẳng nên an trụ trong lão tử. Chẳng nên an trụ trong tứ niệm xứ nhẫn đến chẳng nên an trụ trong mười tám pháp bất cộng. Tại sao vậy? Vì tứ niệm xứ và tướng của tứ niệm xứ là không. Tứ niệm xứ không chẳng gọi là tứ niệm xứ, rời ngoài không cũng không có tứ niệm xứ. Tứ niệm xứ tức là không, không tức là tứ niệm xứ. Nhẫn đến mười tám pháp bất cộng cũng như vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng nên ai trụ trong sáu ba la mật. Tại sao vậy? Vì sáu ba la mật và tướng của sáu ba lạ mật là không. Sáu ba la mật không chẳng gọi là sáu ba la mật. Rời ngoài không cũng chẳng có sáu ba la mật. Sáu ba la mật tức là không, không tức là sáu ba la mật.
Bạch đức Thế Tôn! Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng nên an trụ trong nhất tự môn, nhị tự môn nhẫn đến vô lượng tự môn. Vì ý nghĩa cũng như trên đã nói.
Bạch đức Thế Tôn! Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng nên an trụ trong các môn thần thông. Vì ý nghĩa cũng như trên đã nói.
Bạch đức Thế Tôn! Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng nên an trụ trong sắc là vô thường, sắc là khổ, sắc là vô ngã, sắc là không, sắc là tịch diệt, là ly. Tại sao vậy? Vì vô thường và tướng vô thường là không. Vô thường không chẳng gọi là vô thường, rời ngoài không cũng chẳng có vô thường. Vô thường tức là không, không tức là vô thường. Khổ, vô ngã không tịch diệt và ly cũng như vậy. Nhẫn đến thọ, tưởng, hành, thức là ly, đại Bồ Tát chẳng nên an trụ cũng như vậy.
Bạch đức Thế Tôn! Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng nên an trụ trong như như. Tại sao vậy? Vì như tướng là không nên chẳng gọi như như, rời ngoài không cũng chẳng có như như. Như tức là không, không tức là như.
Bạch đức Thế Tôn! Muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng nên an trụ trong pháp tính, pháp tướng, pháp vị, thiệt tế. Tại sao vậy? Vì thiệt tế và thiệt tế tướng là không. Thiệt tế không chẳng gọi là thiệt tế, rời ngoài không cũng chẳng có thiệt tế. Thiệt tế tức là không, không tức là thiệt tế.
Bạch đức Thế Tôn Muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bát nhã ba la mật chẳng nên an trụ trong tất cả môn đà la ni, môn tam muội. Tại sao vậy? Vì tướng của đà la ni và tam muội là không. Đã là không thời chẳng gọi là môn đà la ni môn tam
Phần 3
muội. Rời ngoài không cũng chẳng có môn đà la ni, môn tam muội. Môn đà la ni và môn tam muội tức là không, không tức là môn đà la ni và môn tam muội.
Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát muốn thật hành Bát nhã ba la mật, vì không phương tiện nên an trụ trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vì có tâm chấp ngã nên Bồ Tát này sinh khởi sắc hành. Nếu đã sinh khởi hành thời chẳng nhẫn thọ Bát nhã ba la mật và cũng chẳng đày đủ Bát nhã ba la mật. Vì chẳng đầy đủ Bát nhã ba la mật nên chẳng thành tựu được nhất thiết chủng trí.
Như ngũ uẩn, thập nhị xứ đến tam muội môn cũng như vậy. Do tâm vô ngã mà Bồ Tát sinh khởi tam muội môn hành. Vì có hành nên chẳng nhẫn thọ và chẳng đầy đủ Bát nhã ba la mật, do đây nên chẳng thành tựu được nhất thiết chủng trí.
Tại sao vậy? Vì sắc đến tam muội môn vốn chẳng thọ nhận, vì chẳng thọ nhận nên sắc chẳng phải sắc, đến tam muội môn, chẳng phải tam muội môn, vì là tính không. Bát nhã ba la mật cũng chẳng thọ nhận, thế nên chẳng phải Bát nhã ba la mật, vì là tính không.
Vì thế nên muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát phải quán các pháp tính không, quán tâm không hành xứ. Đây gọỉ là Bồ Tát chẳng thọ nhận, công dụng tam muội quảng đại này chẳng cùng chung với hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Nhất thiết chủng trí đây cũng chẳng thọ nhận, vì là nội không, vì là ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô thỉ không, tán không, tính không, tự tướng không, chư pháp không, bất khả đắc không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không.
Tại sao vậy? Vì nhất thiết chủng trí chẳng thể dùng tướng và hành mà có thể được tướng hành. Vì tướng hành là cấu tướng.
Những gì là cấu tướng? sắc tướng đến tam muội môn tướng gọi là tướng cấu uế.
Nếu nhẫn thọ, nếu tu hành cấu tướng này mà có thể được nhất thiết chủng trí thời phạm chí Tiên Ni tất chẳng phát tín tâm.
Tin thế nào? Tin Bát nhã ba la mật. Suy ngẫm phân biệt rõ biết chẳng do pháp hữu tướng, chẳng do pháp vô tướng. Như thế, phạm chí Tiên Ni chẳng chấp lấy tướng mà an trụ. Trong tín hành, phạm chí Tiên Ni dùng tín không trí nhập trong pháp tướng, chẳng nhẫn thọ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vì các pháp vốn tự tướng không nên chẳng thể nhẫn thọ.
Phạm chí Tiên Ni này do chẳng phải nội quán, ngoại quán và nội ngoại quán mà được trí tuệ này. Cũng do chẳng phải là không trí huệ quán nên được trí huệ này.
Tại sao vậy? Phạm chí này chẳng thấy có pháp, vì người trí biết pháp, biết xử vậy.
Chẳng phải ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cũng chẳng phải ở ngoài sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà phạm chí này được trí, cũng chẳng ở trong nội ngoại sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà được trí huệ này, cũng chẳng phải rời ngoài sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà được trí tuệ này, vì nộị ngoại không vậy.
Ở trong đây phạm chí Tiên Ni tâm được tín giải nơi nhất thiết trí. Thế nên phạm chí tin thiệt tướng của các pháp, vì tất cả các pháp bất khả đắc. Tín giải như vậy rồi thời không có pháp để có thể nhẫn thọ, vì các pháp không tướng, không ức niệm.
Nơi các pháp, phạm chí Tiên Ni cũng vô sở đắc, không thủ, không xả, vì thủ xả đều bất khả đắc vậy.
Phạm chí Tiên Ni cũng chẳng niệm trí huệ, vì các pháp tướng vốn vô niệm vậy.
Đây gọi là Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát vì Bát nhã ba la mật chẳng phảỉ Bát nhã ba la mật vậy.
Đại Bồ Tát chẳng nhẫn thọ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vì tất cả các pháp chẳng nhẫn thọ vậy. Nhẫn đến chẳng thọ tam muội môn, vì tất cả pháp chẳng thọ vậy.
Ở trong đây, Bồ Tát này cũng chẳng lấy Niết Bàn niệm xứ, vì chưa đầy đủ tử niệm xứ nhẫn đến chưa đầy đủ mười tám pháp bất cộng. Tứ niệm xứ này chẳng phải tứ niệm xứ, nhẫn đến mười tám pháp bất cộng chẳng phảỉ pháp bất cộng. Những pháp này chẳng phải pháp, cũng không chẳng phải pháp.
Đây gọi là Bát nhã ba la mật của đại Bồ Tát chẳng thọ sắc, nhẫn đến chẳng thọ pháp bất cộng.
Bạch đức Thế Tôn! Muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát phải tư duy như vầy: Gì là Bát nhã ba la mật? Tại sao gọi là Bát nhã ba la mật? Bát nhã ba la mật của ai?
Nếu thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát nên nghĩ nhớ rằng nếu các pháp vô sở hữu bất khả đắc thời là Bát nhã ba la mật”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Những pháp gì vô sở hữu bất khả đắc?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Bát nhã ba la mật là pháp vô sử hữu bất khả đắc, Thiền na, Tỳ lê gia, sằn đề, Thi la, Đàn na ba la mật là pháp vô sở hữu bất khả đắc. Tại sao vậy? Vì là nội không, ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, tự tướng không, chư pháp không, bất khả đắc không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không vậy.
Này Xá Lợi Phất! sắc, thọ, tưởng, hành, thức là pháp vô sử hữu bất khả đắc, nhẫn đến vô pháp hữu pháp không là pháp vô sở hữu bất khả đắc. Tứ niệm xứ đến bất cộng pháp là pháp vô sở hữu bất khả đắc. Các môn thần thông cùng như như pháp tính, pháp tướng, pháp vị, pháp trụ và thiệt tế đều là pháp vô sở hữu bất khả đắc.
Này Xá Lợi Phất! Phật cùng nhất thiết trí, nhất thiết chủng trí là pháp vô sở hữu bất khả đắc. Vì là nội không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không vậy.
Này Xá Lại Phất! Nếu lúc tư duy như vậy, quán sát như vậy, đại Bồ Tát tâm chẳng trầm một, chẳng hối tiếc, chẳng khinh, chẳng sợ, phải biết đại Bồ Tát này chẳng rời hạnh Bát nhã ba la mật".
Ngài Xá Lợỉ Phất hỏi: "Do nhân duyên gì mà biết Bồ Tát chẳng rời hạnh Bát nhã ba la mật?"
Ngài Tu Bồ Đề nói: "sắc rời sắc tính, nhẫn đến thức rời thức tính. Sáu ba la mật rời sáu ba la mật tính, nhẫn đến thiệt tế rời thiệt tế tính".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Thế nào là sắc tính đến thiệt tế tính?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Vô sở hữu là sắc tính, nhẫn đến vô sở hữu là thiệt tế tính. Vì duyên cớ này nên biết rằng sắc rờ sắc tính, nhẫn đến thiệt tế rời thiệt tế tính.
Này Ngài Xá Lợi Phất! sắc cũng rời sắc tướng, nhẫn đến thiệt tế cũng rời thiệt tế tướng. Tướng cũng rời tướng, tính cũng rừi tính".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Nếu học như vậy, đại Bồ Tát đưực nhất thiết chủng trí chăng?".
Ngàỉ Tu Bồ Đề nói: "Đúng như vậy. Nếu đại Bồ Tát học như vậy thời thành tựu nhất thiết chủng trí. Tại sao vậy? Vì các pháp chẳng sinh khởi, chẳng thành tựu vậy".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Duyên cớ gì các pháp chẳng sinh, chẳng thành?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Vì sắc tức là sắc không, nhẫn đến vi thiệt tế là thiệt tế không nên sắc sinh thành bất khả đắc, nhẫn đến thiệt tế sinh thành bất khả đắc.
Này Ngài Xá Lợi Phất! Học như vậy, đại Bồ Tát lần lần gần nhất thiết chủng trí, lần lần được thân thanh tịnh, tâm thanh tịnh và tướng thanh tịnh. Vì được thân và tâm cùng tướng thanh tịnh nên đại Bồ Tát này chẳng phát sinh những tâm phiền não, tham, sân, si, mạn, xan tà kiến. Vì chẳng phát sinh tâm phiền não nên Bồ Tát này chẳng sinh từ bụng người mẹ mà thường hóa sinh từ một Phật quốc đến một Phật quốc để thành tựu chúng sinh, thanh tịnh Phật độ, mãi đến khi thành Vô thượng Bồ đề trọn chẳng lúc nào rời chư Phật.
Đại Bồ Tát phải học và hành Bát nhã ba la mật như vậy".

PHẨM HÀNH TƯỚNG THỨ MƯỜI

Ngài Tu Bồ Đề bạch đức Phật: "Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát nếu không phương tiện mà muốn thật hành Bát nhã ba la mật, nếu duyên nơi sắc, nếu duyên nơi thọ, tưởng, hành, thức, thời là hành tướng, nếu duyên nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hoặc thường hay vô thường, hoặc lạc hay khổ, hoặc hữu hay không, hoặc ngã hay vô ngã, hoặc ly, hoặc tịch diệt, đây đều là hành tướng cả.
Nếu đại Bồ Tát không phương tiện mà duyên nơi tứ niệm xứ, nhẫn đến duyên nơi mười tám pháp bất cộng, đây là hành tướng.
Nếu thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát nghĩ rằng: Tôi có thật hành Bát nhã ba la mật, đây là hành tướng. Hoặc lại nghĩ rằng có thể thật hành như vậy thời là tu
Phần 4

hành Bát nhã ba la mật, đây cũng là hành tướng. Nên biết đại Bồ Tát này không có phương tiện mà thật hành Bát nhã ba la mật".
Ngài Tu Bồ Đề lại nói với Ngài Xá Lợi Phất: "Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, nếu đại Bồ Tát phân biệt duyên nơi sắc, vì vấn đề sắc mà khởi hạnh. Nếu vì vấn đề sắc mà khởi hạnh, thời chẳng thể thoát ly sinh, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não và khổ quả đời sau. Như sắc với thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy.
Như ngũ ấm với lục căn, lục trần, thập bát giới với tứ niệm xứ, nhẫn đến mười tám pháp bất cộng cũng vậy. Nếu đại Bồ Tát phân biệt duyên nơi pháp bất cộng, vì vấn đề pháp bất cộng mà khởi hạnh thời chẳng thể thoát ly sinh, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não và quả khổ đời sau.
Bồ Tát như đây còn chẳng thể chứng bậc Thanh Văn, Bích Chỉ Phật huống là có thể được Vô thượng Bồ đề.
Nên biết Bồ Tát như vậy là không phương tiện mà thật hành Bát nhã ba la mật”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Thế nào biết rằng đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật mà có phương tiện?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Lúc muốn thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát chẳng duyên nơi sắc, chẳng duyên nơi thọ, tưởng, hành, thức, chẳng duyên nơi tướng của sắc, chẳng duyên nơi tướng của thọ, tưởng, hành, thức cũng chẳng duyên nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức là thường, là vô thường, là lạc, là khổ, là ngã, là vô ngã, là không, là vô tướng, là vô tác, là ly, là tịnh diệt. Với tất cả, đại Bồ Tát đều chẳng duyên.
Tại sao vậy?
Này Xá Lợi Phất! sắc không đây thời chẳng phải sắc, rời ngoài không cũng chẳng có sắc, rời ngoài sắc cũng chẳng có không, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
Nhẫn đến mười tám pháp bất cộng, pháp bất cộng không thời là chẳng phải pháp bất cộng, rời không chẳng có pháp bất cộng, rời pháp bất cộng cũng chẳng có không, pháp bất cộng tức là không, không tức là pháp bất cộng.
Nên biết đây là đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật có phương tiện vậy.
Thật hành Bát nhã ba la mật mà có phương tiện như vậy, đại Bồ Tát này có thể được Vô thượng Bồ đề.
Lúc thật hành Bát nhã ba la mật, đại Bồ Tát này chẳng nhận lấy thật hành, chẳng nhận lấy chẳng thật hành, chẳng nhận lấy thật hành chẳng thật hành, cũng chẳng nhận lấy chẳng phải thật hành chẳng phải chẳng thật hành. Chẳng nhận lấy, cũng chẳng nhận lấy".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Duyên cờ gì mà đại Bồ Tát chẳng nhận lấy?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Vì tự tính bất khả đắc nên chẳng nhận lấy".
Tại sao vậy? Vì không có tính, chính đó là Bát nhã ba la mật. Thế nên đại Bồ Tát với tất cả đều chẳng nhận lấy. Với chẳng nhận lấy, cũng chẳng nhận lấy.
Tại sao vậy? Vì pháp tính là vô sở hữu nên chẳng duyên nơi pháp, cũng chẳng nhận lấy các pháp tướng.
Đây gọi là tác dụng quảng đại của chư pháp vô sở thọ tam muội của đại Bồ Tát. Tam muội chẳng cùng chung với hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Đại Bồ Tát thường thật hành tam muội này mà chẳng rời thời mau được Vô thượng Bồ đề”.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Chỉ chẳng rời tam muội này mà đại Bồ Tát mau được Vô thượng Bồ đề, hay là còn những tam muội khác?”.
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Những tam muội sau đây cũng làm cho đại Bồ Tát mau được Vô thượng Bồ đề. Như là thủ lăng nghiêm tam muội, bửu ấn tam muội, sư tử du hí tam muội, diệu nguyệt tam muội, nguyệt tràng tướng tam muội, xuất chư pháp ấn tam muội, quán đảnh tam muội, tất pháp tính tam muội, tất tràng tướng tam muội, kim cang tam muội, nhập pháp ấn tam muội, tam muội vương an lập tam muội, vương ấn tam muội, phóng quang tam muội, lực tấn tam muội, xuất sinh tam muội, tất nhập biện tài tam muội, nhập danh tự tam muội, quán phương tam muội, đà la ni ấn tam muội, bất vong tam muội, nhiếp chư pháp hải ấn tam muội, biến phú hư không tam muội, kim cang luân tam muội, bửu đoạn tam muội, năng chiếu diệu tam muội, bất cầu tam muội, tam muội vô xứ trụ tam muội, vô tâm tam muội, tịnh đăng tam muội, vô biên minh tam muội, năng tác minh tam muội, phổ chiếu minh tam muội, kiên tịnh chư tam muội tam muội, vô cấu minh tam muội, tác nhạc tam muội, điển quang tam muội, vô tịnh tam muội, oai đức tam muội, ly tận tam muội, bất động tam muội, trang nghiêm tam muội, nhật quang tam muội, nguyệt tịnh tam muội, tịnh minh tam muội, tác hành tam muội, tri tướng tam muội, như kim cang tam muội, tâm trụ tam muội, biến chiếu tam muội, an lập tam muội, bửu đảng tam muội, diệu pháp ấn tam muộỉ, pháp đẳng tam muội, lập sinh hỉ tam muội, đáo pháp đảnh tam muội, năng tán tam muội, hoại chư pháp xứ tam muội, tự đẳng tướng tam muội, lỵ tự tam muội, đoạn duyên tam muội, bất hoại tam muội, vô chủng tướng tam muội, vô xứ hành tam muội, ly ám tam muội, vô khứ tam muội, độ duyên tam muội, tập chư đức tam muội, trụ vô tâm tam muội, tịnh diệu hoa tam muội, giác ý tam muội, vô lượng biện tam muội, vô đẳng đẳng tam muội, độ chư pháp tam muội, phân biệt chư pháp tam muội, tán nghi tam muội, vô trụ xứ tam muội, nhất tướng tâm muội, bất nhất hạnh tam muội, diệu hạnh tam muội, đạt nhất thiết hữu để tán tam muội, nhập ngôn ngữ tam muội, ly âm thanh tự ngữ tam muội, nhiên cự tam muội, tịnh tướng tam muội, phá tướng tam muội, nhất thiết chủng như túc tam muội, bất hỷ khổ lạc tam muội, hất tận hành tam muội, đà la ni tam muội, thủ chư tà chính tướng tam muội, diệt tắng ái tam muội, nghịch thuận tam muội, tịnh quang tam muội, kiên cố tam muội, mãn nguyệt tịnh quang tam muội, đại trang nghiêm tam muội, năng chiếu nhất thiết thế tam muội, đẳng tam muội, vô tránh hạnh tam muội, vô trụ xứ lạc tam muội, như trụ định tam muội, hoại thân tam muội, hoại ngữ như hư không tam muội, ly trước như hư không bất nhiễn tam muội.
Này Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát thật hành các môn tam muội trên đây cùng vô lượng vô số môn tam muội môn đà la ni đều có thể mau được Vô thượng Bồ đề".
Thuận theo ý của đức Phật, Ngài Tu Bồ Đề nói: "Nên biết rằng chư đại Bồ Tát thật hành các môn tam muội này, thời đã được chư Phật quá khứ thọ ký. Chư Phật hiện tại ở mười phương cũng thọ ký cho đại Bồ Tát này. Chư đại Bồ Tát này chẳng thấy, chẳng nghĩ những tam muội ấy, cũng chẳng nghĩ rằng tôi sẽ nhập, đương nhập, hay đã nhập những tam muội ấy. Chư đại Bồ Tát này hoàn toàn không có quan niệm phân biệt".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Đại Bồ Tát an trụ nơi những tam muội này, có phải đã được thọ ký từ chư Phật quá khứ chăng?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Không phải. Tại sao vậy? Này Xá Lợi Phất Bát nhã ba la mật chẳng khác những tam muội. Những tam muội chẳng khác Bát nhã ba la mật. Bồ Tát chẳng khác Bát nhã ba la mật và tam muội. Bát nhã ba la mật và tam muội chẳng khác Bồ Tát. Bát nhã ba la mật tức là tam muội. Tam muội tức là Bát nhã ba la mật. Bồ Tát tức là Bát nhã ba la mật và tam muội. Bát nhã ba la mật và tam muội tức là Bồ Tát".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Nếu tam muội chẳng khác Bồ Tát, Bồ Tát chẳng khác tam muội, tam muội tức là Bồ Tát, Bồ Tát tức là tam muộỉ, thời Bồ Tát thế nào biết tất cả pháp là tam muội?".
Ngài Tu Bồ Đề nói; “Lúc Bồ Tát nhập tam muội này chẳng nghĩ rằng tôi dùng pháp này để nhập tam muội này. Do duyên cớ đây nên đối với các tam muội, Bồ Tát chẳng biết, chẳng nhớ"
Ngài Xá Lợi Phất hỏi; "Tại sao chẳng biết, chẳng nhớ?".
Ngài Tu Bồ Đề nói: "Vì các tam muội vô sở hữu nên Bồ Tát chẳng biết, chẳng nhớ".
Đức Phật khen; "Lành thay, lành thay! Này Tu Bồ Đề! Đúng như lời của Phật từng nói, ông là người thật hành vô tránh tam muội đệ nhất được tương ứng với nghĩa này. Đại Bồ Tát phải y theo nghĩa này mà học sáu ba la mật, tứ niệm xứ nhẫn đến mười tám pháp bất cộng".
Ngài Xá Lợi Phất thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát học như vậy có phải là học Bát nhã ba la mật chăng?".
Đức Phật nói; "Đại Bồ Tát học như vậy chính là học Bát nhã ba la mật vì pháp ấy là bất khả đắc. Cũng chính là học năm ba la mật kia cùng tứ niệm xử nhẫn đến mười tám pháp bất cộng, vì pháp ấy là bất khả đắc vậy".
Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát học Bát nhã ba la mật như vậy, có phải pháp ấy là bất khả đắc chăng?".
Đức Phật nói: "Đại Bồ Tát học Bát nhã ba la mật như vậy, pháp ấy là bất khả đắc".
Ngài Xá Lợi Phất thưa: "Bạch đức Thế Tôn! Những pháp gì là bất khả đắc?".
Đức Phật nói: "Ngã là bất khả đắc, nhẫn đến tri giả, kiến giả là bất khả đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới là bất khả đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Tứ đế, thập nhị nhân duyên là bất khả đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy.

Phần 5

Dục giới, sắc giới, Vô sắc giới là bất khả đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Tứ niệm xứ nhẫn đến mười tám pháp bất cộng là vô sở đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Sáu ba la mật là vô sở đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy. Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, Phật là vô sở đắc, vì rốt ráo thanh tịnh vậy".
Ngài Xá Lợi Phất hỏi: "Bạch đức Thế Tôn! Những gì là rốt ráo thanh tịnh?".
Đức Phật nói: "Chẳng xuất, chẳng sinh, không được, không làm, đây gọi là rốt ráo thanh tịnh".
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu đại Bồ Tát học như vậy, đó là học những pháp gì?
- Này Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát học như vậy, với các pháp là vô sở học. Tại sao vậy? Này Xá Lợi Phất! Các pháp tướng chẳng phải như chỗ chấp trước của kẻ phàm phu.
- Bạch đức Thế Tôn! Các pháp thiệt tướng thế nào có?
- Này Xá Lợi Phất! Các pháp vô sở hữu. Hữu như vậy, vô sở hữu như vậy, nơi sự này mà chẳng biết thời gọi là vô minh.
- Bạch đức Thế Tôn! Những gì là vô sở hữu, nơi sự này chẳng biết nên gọi là vô minh?
- Này Xá Lợi Phất! Ngũ ấm đến thập bát giới là vô sở hữu, tứ niệm xứ đến pháp bất cộng là vô sở hữu. Tại sao vậy? Vì là nội không, nhẫn đến vô pháp hữu pháp không vậy.
Ở trong đây, vì sức vô minh làm cho khát ái nên kẻ phàm phu vọng thấy phân biệt. Đây gọi là vô minh. Kẻ phàm phu này bị nhị biên trói buộc nên chẳng biết, chẳng thấy các pháp vô sở hữu. Do đây mà nhớ tưởng phân biệt chấp trước nơi sắc, nhẫn đến pháp bất cộng.
Nơi pháp vô sở hữu, vì chấp trước nên người này sinh ra sự phân biệt biết và thấy. Đây là kẻ phàm phu chẳng biết, chẳng thấy. Chẳng thấy, chẳng biết những gì? Chẳng thấy, chẳng biết sắc, nhẫn đến chẳng thấy, chẳng biết pháp bất cộng. Do cớ này mà sa vào hàng phàm phu như trẻ nít.
Người này chẳng ra khỏi. Chẳng ra khỏi chỗ nào? Chẳng ra khỏi Dục giới, sắc giới, Vô sắc giới, chẳng ra khỏi trong pháp của Thanh Văn, Bích Chi Phật.
Ngườ này cũng chẳng tin. Chẳng tin những gì? Chẳng tin sắc không, nhẫn đến chẳng tin pháp bất cộng không.
Người này cũng chẳng an trụ. Chẳng an trụ nơi đâu? Chẳng an trụ nơi lục ba la mật, chẳng an trụ bậc bất thối chuyển, nhẫn đến chẳng an trụ pháp bất cộng.
Do duyên cớ này mà gọi là phàm phu như trẻ nít. Cũng gọi là kẻ chấp trước. Chấp trước những gì? Chấp trước sắc, nhẫn đến ý thức giới, chấp trước tham, nhẫn đến tà kiến, chấp trước tứ niệm xứ, nhẫn đến Phật đạo.
- Bạch đức Thế Tôn! Đại Bồ Tát học như vậy, có phải cũng là chẳng học Bát nhã ba la mật, chẳng được nhất thiết chủng trí chăng?
- Này Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát học như vậy cũng là chẳng học Bát nhã ba la mật, chẳng được nhất thiết chủng trí.
Tại sao vậy? Vì đại Bồ Tát này không phương tiện nên nghĩ tưởng phân biệt chấp trước Bát Nhã, Thiền na, Tỳ lê gia, sằn đề, Thi la và Đàn na ba la mật, nhẫn đến nghĩ tưởng, phân biệt, chấp trước pháp bất cộng và nhất thiết chủng trí. Vì duyên cớ này nên đại Bồ Tát học như vậy cũng là chẳng học Bát nhã ba la mật, chẳng được nhất thiết chủng trí.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu như vậy thời đại Bồ Tát phải học Bát nhã ba la mật như thế mới là học Bát nhã ba la mật được nhất thiết chủng trí?
- Này Xá Lợi Phất! Lúc học Bát nhã ba la mật, nếu đại Bồ Tát chẳng thấy Bát nhã ba la mật thời là học Bát nhã ba la mật được nhất thiết chủng trí, vì bất khả đắc vậy.
- Bạch đức Thế Tôn! Tại sao gọi là bất khả đắc?
- Này Xá Lợi Phất! Vì tất cả pháp nội không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không vậy".

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục