Buddha.com.vn

KPCTD PHẨM THỨ CHÍN - SONG YẾU

25/01/2016

PHẨM THỨ CHÍN SONG YẾU 1- TÂM TRẠNG HAI ANH LÁI BUÔN TRÁI NHAU Một hôm, vua Ba-tư-nặc nước Xá-vệ đi đến nơi Phật ở, đi gần đến nơi, xuống xe, bỏ lọng, mở kiếm, cởi giày, chắp tay đi vào lễ dưới chân Phật, quỳ gối bạch :...

KPCTD PHẨM THỨ CHÍN - SONG YẾU
Phần 1

PHẨM THỨ CHÍN SONG YẾU
1- TÂM TRẠNG HAI ANH LÁI BUÔN TRÁI NHAU

Một hôm, vua Ba-tư-nặc nước Xá-vệ đi đến nơi Phật ở, đi gần đến nơi, xuống xe, bỏ lọng, mở kiếm, cởi giày, chắp tay đi vào lễ dưới chân Phật, quỳ gối bạch : - Ngày mai tại ngã tư đường, con có bày đàn trai, thỉnh Phật và đại chúng đến thọ trai, khiến cho nhân dân trong nước biết Đức Thế Tôn, nguyện từ nay chúng sanh xa lìa yêu quỷ, cổ độc, gìn giữ Ngũ giới để tiêu các tai hoạ trong nước, cúi mong Thế Tôn nhận cho. Phật bảo : - Lành thay ! Phàm là vua, phải nên hướng dẫn dân chúng noi theo con đường sáng, lấy đạo đức cầu phước mai sau. Vua bạch : - Quả thật như vậy, kính xin Thế Tôn cho phép con lui về lo sắm sửa, trần thiết. Sáng hôm sau, tự tay vua thiết trai xong, đích thân thỉnh Phật cùng chúng Tăng, tới ngã tư đường, Phật ngồi xong, ông liền dâng nước rửa tay, sớt thức ăn. Phật thọ thực xong, ở nơi ngã tư đường vì vua thuyết pháp cho dân chúng đông vô số tụ tập bốn phía đường nghe. Trong đám đông lúc bấy giờ có hai anh lái buôn, một người thầm nghĩ : “Phật như đế vương, đệ tử như trung thần; Phật nói rõ pháp, đệ tử rộng truyền. Nay vua rất sáng suốt, biết Phật là bậc đáng tôn thờ”. Anh lái buôn thứ hai lại nghĩ : “Vua Ba-tư-nặc thật ngu thay ! Đã là vua chúa, lại còn cầu mong gì nữa ? Phật cũng như con trâu kéo xe, đệ tử giống như chiếc xe bị kéo, trâu kia kéo xe Đông, Tây, Nam, Bắc. Phật cũng như thế, ông có đạo đức gì mà phải phụng thờ”. Nghĩ xong, hai người cùng đi, đi được 30 dặm vào quán gọi rượu uống, cùng nhau đàm luận những việc trên. Phàm người nghĩ lành thời có Tứ Thiên Vương phò trì; người nghĩ ác thời có quỷ thần ở Thái Sơn sai khiến, uống rượu vào. khiến anh kia nóng nảy như lửa đốt nên anh ra đường nằm ngay lối bánh xe lăn, khuya sớm có 500 cỗ xe của đoàn khách buôn đi ngang qua cán chết. Sáng ra anh nọ tìm thấy như thế liền nghĩ : Nếu ta trở về xứ, mọi người nghi là ta giết người để đoạt của, thân còn chẳng ra chi, của có nghĩa lý gì. Anh bèn bỏ sang nước khác. Gặp lúc nhà vua nước này vừa mới băng, lại không có con để nối ngôi, quần thần coi bói, trong sách ứng câu : Trong nước đang có người hiền đáng làm vua trị nước. Nước ấy có một con thần mã, hễ gặp đáng bậc vua là biết quỳ hai gối trước, người trong nước gác yên cương ngựa thần, để tìm cầu vị quốc chủ, người đi xem được vài ngàn. Anh lái buôn cũng vừa qua nước ấy, quan Thái Sử nói : Người kia có mây vàng phủ che ắt cổ tướng mạng Đế vương. Khi ngựa đến trước anh này, nó liền quỳ gối xuống liếm chân. Các quan vội thỉnh chàng về tắm gội tôn lên coi việc nước, ông bèn tự nghĩ : Tôi không có chút mảy lành nào, nhờ duyên gì lại được như ngày hôm nay; chắc là nhờ ơn Phật nên mới được như vầy, Tân vương cùng quần thần hướng về nước Xá-vệ, cúi đầu khấn : Kẻ hèn này thiếu tài đức, mong lòng từ của Thế Tôn nên con mới được làm vua nước này. Ngày mai con thỉnh Thế Tôn và đại chúng rủ lòng thương xót chiếu cố đến nước con.
Lúc ấy vào tiết tháng Ba, Phật dạy A-nan báo cho các Tỳ-kheo hay : Ngày mai có vua nước kia thỉnh, đều phải dùng thần túc đến, khiến cho vua và nhân dân nước kia được hoan hỷ.
Sáng ngày, Phật và Thánh (chúng) đệ tử dùng thần túc đi đến nước kia, lần lượt thứ tự ngồi, thọ thực, rửa tay xong, vì vua thuyết pháp. Vua hỏi : Con vốn người ít giao du, không biết có đức chi lại mau được kết quả như thế này ?
Phật dạy :
- Ấy vì lúc dự xem lễ cúng dường tại ngã tư đường, tâm vua nghĩ : Phật như quốc vương, đệ tử như bầy tôi. Bệ hạ gieo giông thì nay hưởng quả. Còn bạn của Bệ hạ lai nghĩ : Phật như trâu kéo xe, đệ tử như xe bị kéo, người ấy đã gieo hạt giống xe cán, thì nay phải ở vào địa ngục hỏa xa tại Thái Sơn, tự gặt quả xe cán. Ngày nay Bệ hạ chẳng phải nhờ sức của Bệ hạ mà được. Nên biết : Làm lành phước theo, làm ác họa đuổi. Ấy là tự mình (nghĩ hoặc làm) chớ chẳng phải trời, rồng, quỷ, thần sắp đặt như thế.
Nói xong, Phật đọc bài kệ :
Tâm vi pháp bổn
Tâm tôn tâm sử
Trung tâm niệm ác
Tức ngôn tức hành
Tội khổ tự truy
Xa liệt ư triệt.
Tâm vi pháp bổn
Tâm tôn tâm sử
Trung tâm niệm thiện
Tức ngôn tức hành
Phước lạc tự truy
Như ảnh tùy hình. Tâm đầu muôn pháp
Tâm chủ tạo tác
Đem tâm ô nhiễm
Nói năng, hành động
Sự khổ theo nghiệp
Như xe theo vật.
Tâm đầu muôn pháp
Tâm chủ tạo tác
Đem tâm thanh tịnh
Nói năng, hành động
Sự vui theo nghiệp
Như bóng theo hình
Phật nói Kinh này rồi, vua, quần thần, nhân dân, người nghe đông vô số đều vui vẻ, liền chứng được Pháp nhãn.

2- LƯU LY ĐOẠT NGÔI VUA CỦA CHA VÀ GIẾT ANH

Thuở xưa, Trưởng giả Tu Đạt mua vườn cây của Thái tử Kỳ-đà, và hai người cùng nhau xây dựng Tịnh xá dâng lên Đức Thế Tôn và đại chúng, lại cúng dường Phật và chúng Tăng trọn một tháng. Phật vì hai người nói rộng pháp yếu, hai người đều nhận được đạo. Thái tử Kỳ-đà vui vẻ trở về Đông cung, khen ngợi công đức của Phật tự lấy làm vui. Thái tử Kỳ-đà có người em tên là Lưu Ly, thường ở gần bên.
Khi ấy, vua và hoàng hậu cùng quan quân hầu cận, đi đến nơi Phật ở, lễ bái xong một lòng nghe Kinh, Lưu Ly ở nhà muốn ngồi lên tòa của vua. Lúc ấy có thiếp thần tên A-tát-đà, mưu gian tâu : Ngài thử mặc đồ Đại vương mang ấn ngồi trên tòa coi giống như vua chăng ? Lưu Ly bèn y theo lời mặc đồ lên tòa ngồi, các thiếp thần cùng nhau lạy chúc mừng : Giống như Đại vương, ngàn năm mới gặp như ước nguyện của dân, há để Đông cung dòm ngó ư ?
Ông bèn lên tòa thăng chức người phục dịch, và lãnh các người tùy tùng mặc giáp cầm gươm, dẫn quân đến Tịnh xá Kỳ Hoàn đánh đuổi binh lính Đại vương chẳng cho trở về cung, giết binh lính và cận thần của vua ở Kỳ Hoàn trên 500 người, vua cùng phu nhân trốn chạy, ngày đêm hướng đến nước Xá-di, giữa đường đói khát, vua ăn rau uống nước sình bụng mà chết. Lưu Ly bèn chuyên quyền, liền cầm gươm vào Đông cung giết anh là Kỳ-đà, Kỳ-đà biết lẽ vô thường, tâm không sợ hãi, nhan sắc không đổi, mỉm cười cam lòng chịu chém, lúc ấy nghe trên không trung tự nhiên âm nhạc trỗi rước thần thức ông.
Phật ở Kỳ Hoàn liền nói bài kệ :
Tạo hỷ hậu hỷ
Hành thiện lưỡng hỷ
Bỉ hỷ duy hoan
Kiến phước tâm an
Kim hoan hậu hoan
Vi thiện lưỡng hoan
Quyết vi tự hữu
Thọ phước duyệt dự. Tạo hoan hỷ sau hoan hỷ
Làm lành hai nơi hoan hỷ
Kia hoan hỷ chỉ hoan hỷ
Phần 2
Thấy phước nghiệp tâm an ổn
Nay hoan hỷ sau hoan hỷ
Làm lành cả hai hoan hỷ
Mừng rằng ta đã tạo phước
Sanh cõi lành hoan hỷ hơn.
Lúc ấy, vua Lưu Ly khởi binh chinh phạt nước Xá-di giết hại những người được dấu đạo của Thích Ca, tàn bạo vô đạo tạo đầy những tội ngũ nghịch. Phật huyền ký vua Lưu Ly bất hiếu bất trung, bị nhiều tội rất sâu nặng, sau bảy ngày nữa bị vào địa ngục lửa thiêu chết. Lại quan Thái Sử ghi cùng Phật thọ ký đồng nhau, vua Lưu Ly rất lo sợ, liền ngồi thuyền đi trên dòng sông, nghĩ rằng ta nay ở trên nước, lửa đâu mà đến ! Thời hạn bảy ngày đã hết, giữa trưa tự nhiên có lửa từ trong nước phát ra thiêu chiếc thuyền. Thuyền chìm, vua cũng bị thiêu chết chìm theo.
Khi ấy, Thế Tôn liền nói bài kệ :
Tạo ưu hậu ưu
Hành ác lường ưu
Bĩ ưu duy cụ Kiến tội tâm cừ
Kim hối hậu hối
Vi ác lưỡng hối
Quyết vi tự ương
Thọ tội nhiệt não
Tạo khổ sau chịu khổ hơn
Làm ác sẽ bị hai khổ
Kia khổ vì chỉ lo sợ
Thấy tội tâm rất sợ hãi
Nay hối hận sau hối hận
Làm ác bị hai hối hận
Buồn ràng ta đã tạo ác
Đọa ác thú còn khổ hơn.
Phật nói xong, bảo các Tỳ-kheo, Thái tử Kỳ-đà chẳng tham vinh vị, thà chết một lòng giữ đạo, sanh lên cõi trời, vui vẻ tự nhiên, vua Lưu Ly ngu mê khoái ý, chết đọa địa ngục chịu khổ vô cùng. Tất cả trên thế gian giàu sang, nghèo hèn, đều bị vô thường không có trường tồn, người cao sĩ thà bỏ thân mạng để làm tròn món báu tinh thần.
Phật nói Kinh này xong, mọi người trong hội tin lời Phật dạy cả thảy đều vâng làm.

3- PHẬT ĐỘ BẢY MƯƠI BÀ LA MÔN

Xưa kia, ở sau núi Kỳ-xà-quật, có trên bảy mươi nhà, đời trước phước nhiều, kiếp này đáng độ Phật biết rõ nên đến thôn của họ dùng thần thông làm rõ Chánh đạo. Dân chúng trong làng thấy Phật tướng sáng vòi vọi, không ai chẳng kính phục. Ngồi dưới cội cây, Phật hỏi thăm các Phạm Chí:
- Mấy ông ở chôn núi non này đã mấy đời rồi và làm gì sanh nhai ?
- Chúng tôi ở đây kể ra trên ba mươi đời rồi, lấy nghề làm ruộng nuôi thú sanh sống.
- Có tu hạnh nào để cầu giải thoát sanh tử chăng ?
- Chúng tôi thờ mặt trăng, mặt trời, thần lửa, thần nước, tùy thời cúng kiến. Nếu có người chết thì lớn nhỏ chúng tôi xúm lại, xướng, chúc sanh về cõi trời, giúp họ xa lìa sanh tử.
Phật nói với các người Bà-la-môn ấy :
- Làm ruộng nuôi thú, thờ cúng nhựt nguyệt, thủy hỏa, hát, chúc về trời, tất cả không phải là phép thoát ly sanh tử và trường tồn. Hưởng phước tột độ, không quá hai mươi tám tầng trời, không đắc huệ thì phải trở lại, rơi vào ba nẻo.
Chỉ có xuất gia tu tâm thanh tịnh, đi vào tịch tĩnh thì mới được Nê-hoàn (Niết-bàn).
Nói xong, Phật đọc bài kệ :
Dĩ Chơn vi ngụy
Dĩ ngụy vi Chơn
Thị vi tà kế
Bất đắc Chơn lị (lợi)
Tri Chơn vi Chơn
Kiến ngụy vi ngụy
Thị vi chánh kế
Tất đắc Chơn lị (lợi)
Thế gian hữu tử
Tam giới vô an
Chư Thiên tuy lạc
Phước tân diệc tan
Quán chư thế gian
Vô sanh bất chung
Dục ly sanh tử
Đương hành đạo Chơn. Lấy chơn làm ngụy
Lấy ngụy lâm chơn
Đó là tính sái
Chẳng được thật lợi
Biết chơn là chơn
Thấy ngụy là ngụy
Đó là tính đúng
Ắt được thật lợi
Thế gian đều chết
Ba cõi không an
Chư Thiên tuy vui
Phước hết cũng tan
Xét Việc thế gian
Có đầu có đuôi
Muốn lìa sanh tử
Đi đường chánh chơn
Lấy chơn làm ngụy
Lấy ngụy lâm chơn
Đó là tính sái
Chẳng được thật lợi
Biết chơn là chơn
Thấy ngụy là ngụy
Đó là tính đúng
Ắt được thật lợi
Thế gian đều chết
Ba cõi không an
Chư Thiên tuy vui
Phước hết cũng tan
Xét Việc thế gian
Có đầu có đuôi
Muốn lìa sanh tử
Đi đường chánh chơn.
Bảy mươi Bà-la-môn nghe lời Phật nói, chi xiết vui mừng, lòng dạ cởi mở, nguyện làm Sa-môn, Phật nói : “Lành thay ! Tỳ-kheo !”. Râu tóc đều rụng, tất cả trở thành Sa-môn. Phật và các Tỳ-kheo đồng về Tinh xá. Nhưng dọc đường các tân Sa-môn nhớ vợ, nhớ nhà, người người đều thối chí, thêm nỗi trời mưa lòng càng áo não. Phật biết ý các tân Tỳ-kheo bèn hóa ra mười gian nhà bên cạnh đường, rồi cùng các đệ tử vào đó trú mưa. Nhưng nhà dột nát, nhân đó
Phật đọc bài kệ :
Cái ốc bất mật
Thiên vũ tắc lậu
Bất ý duy hành
Dâm dật vi xuyên
Cái ốc thiện mật
Vũ tắc bất lậu
Nhiếp ý duy hành
Dâm dật bốt sanh Mái nhà thưa thớt
Mưa đổ phải dột
Ý chẳng một đường
Dâm dật xoi ngang
Mái nhà lợp kín .
Dẫu mưa chẳng dột
Giữ ý một đường
Lòng dục chẳng sanh.
Bảy mươi Sa-môn nghe xong bài kệ, tuy gượng tự chủ, lòng cứ buồn buồn. Mưa tạnh lại đi. Dưới đất có mảnh giấy cũ, Phật dạy các thầy Tỳ-kheo lượm lên, Phật hỏi :
- Giấy gì vậy ?
- Bạch Thế Tôn, chắc giấy gói hương, tuy bị vất bỏ mùi thơm vẫn còn.
Thầy trò lại đi. Lại thấy dướỉ đất một khúc dây, Phật bảo lượm và hỏi dây gì ? Các Sa-môn bạch : - Tanh quá, chắc dây này đã dùng cột cá. Phật nói với các Tỳ-kheo - Ở chỗ nguồn cội vật nào cũng sạch, chỉ vì nhân duyên mà hưng khởi tội phước. Gần hiền minh, đạo nghĩa thịnh; bạn ngu tối, tai họa nhiều. Giấy dây kia cũng vậy : Gần hương thì thơm, cột cá thì thúi, thơm thúi thâm nhiễm lần hồi mà không tự biết.
Phật nói bài kệ :
Bỉ phu nhiễm nhơn
Như cận xú vật
Tiệm mê tập phi
Bất giác thành ác
Hiền phu nhiễm nhơn
Như phụ hương huân
Tấn trí tập thiện
Hạnh thành phương khiết Thô tục nhiễm người
Như gần vật thúi
Lần lần quen sai
Chẳng hay thành ác
Hiền Thánh nhiễm người
Như ướp mùi hương
Trí mở lành quen
Hạnh thành thơm sạch.
Bảy mươi Sa-môn nghe xong, biết ham muốn nhà cửa là đầm thúi, vợ là gông, con là cùm, lòng tin vững chắc, về đến Tinh xá, giữ ý một đường được đạo A-la-hán. Thích nghĩa (1) Nhà lợp không kín ắt bị mưa dột, củng vậy người tâm không khéo tu ắt bị tham dục lọt vào.
(2) Nhà khéo lợp kín ắt không bị mưa dột; cũng vậy người tâm kheo tu ắt không bị tham dục iọt vào

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục