Buddha.com.vn

PHẨM THỨ BA MƯƠI TÁM - ĐAO LỢl

04/02/2016

PHẨM THỨ BA MƯƠI TÁM - ĐAO LỢl PHẬT DẠY TÂN VƯƠNG BỔN PHẬN LÀM VUA Thuở xưa, có một nhà vua lấy Chánh pháp cai trị, lấy đức hóa dân, được dân ái mộ, nhưng vua không có con trai nên lo buồn sầu muộn. Một ngày kia, Phật đế...

PHẨM THỨ BA MƯƠI TÁM - ĐAO LỢl
Phần 1

PHẨM THỨ BA MƯƠI TÁM - ĐAO LỢl
PHẬT DẠY TÂN VƯƠNG BỔN PHẬN LÀM VUA

Thuở xưa, có một nhà vua lấy Chánh pháp cai trị, lấy đức hóa dân, được dân ái mộ, nhưng vua không có con trai nên lo buồn sầu muộn.
Một ngày kia, Phật đến thành, vua ra nghinh tiếp. Nghe Kinh lòng vui vẻ, vua tức thời thọ năm giới, quyết một lòng kính giữ, nguyện được một mụn con trai, vì vậy mà ngày đêm tinh tấn không lúc nào lười biếng.
Vua có một người hầu, tuổi vừa mươi một, hết lòng trung tín, lại theo vua tu hành, chẳng mất oai nghi,, nhún mình nhẫn nhục, một lòng học tụng Kinh kệ, sáng nào cũng dậy trước vua, lo nhang đèn cho vua lễ Phật. Trải qua mấy năm, chàng thanh niên giữ một mực như vậy, không cho đó là điều nhọc nhằn. Nhưng chàng lâm trong bệnh rồi chết, thần thức trở lại làm con vua Đến mười lăm tuổi được lập làm Thái tử.
Chẳng bao lâu, vua cha băng hà. Thái tử lên ngôi kế vị, sanh tâm kiêu mạn, dâm dật vui chơi, ngày đêm miệt mài chẳng kể đến việc trị nước chăm dân, khiến cho quan liêu phế việc triều kiến, còn dân chúng khốn khổ vô cùng.
Phật biết việc làm của tân vương, bèn cùng các đệ tử đi đến nước vua. Y theo lễ của Tiên đế, vua xuất thành nghinh đón vào cung, quỳ lạy làm lễ và thỉnh Phật lên ngồi chỗ dành cho vua. Phật hỏi vua : - Đất nước, nhân dân, quan liêu lớn nhỏ được thường chứ ?
Vua bạch :
_ Vì còn nhỏ tuổi, tôi chưa làm được việc vỗ về cảm hóa, nhưng nhờ ơn Thánh, đất nước không có gì lạ.
Phật nói :
- Vua có biết vốn từ đâu lại đây và làm được công đức nào để ngày nay được ngồi trên ngôi báu không ? Vua đáp :
" Tôi ngu muội chẳng biết việc đời trước. Phật nói :
- Được làm quốc vương vốn do năm việc. Một là bố thí, đem tiền của trong cung điện mà cấp cho vạn dân; hai là xây dựng chùa miễu, cúng dường Tam Tôn (Phật, Pháp, Tăng); ba là gần gũi, lễ kính Tam Tôn cùng các bậc đức hạnh sâu dày, đãi muôn dân chẳng thiếu lễ; bốn là nhẫn nhục, giữ gìn đừng phạm ba tội ác của miệng và ba tội ác của ý, khiến cho ai trông thấy cũng đem lòng kính mến và vui vẻ; năm là trong chỗ học vấn, thường cầu trí huệ, để đem ra dù trong chỗ quyết đoán việc nước. Nói xong, Phật đọc bài kệ :
Nhơn trĩ phụng kỳ thượng
Quân, phụ, sư, đạo sĩ
Tín, giới, thí, văn, huệ
Chung kiết sở sanh an
Túc mạng hữu phước khánh
Sanh thế vi nhơn tôn
Dĩ đạo an thiên hạ
Phụng pháp mạc bất tùng
Vương vi thần dân chủ
Thường dĩ từ ái hạ
Thân suất dĩ pháp giới
Thị chi dĩ hưu cửu
Xử an bốt vong nguy
Lự minh phước chuyển hộu
Phước đức chi phản báo
Bất vấn tôn dữ ti.
Dịch : Hễ biết thờ người trên
Vua, cha, thầy, đạo sĩ
Tin, giữ giới, bố thí
Cố học, định huệ tu
Chung cuộc được an lành
Tái sanh nơi sung sướng
Đời trước nhờ tạo phước
Nay mới được kính vì
Lấy đạo an thiên hạ
Thờ pháp, ai chẳng tùng
Vua là chúa quan dân
Thường nên thương kẻ dưới
Thân làm đúng luật đạo
Lo gì lỗi không tiêu
Ở yên chớ quên nguy
Sáng lo sau có phước
Báo ứng của phước đức
Không chọn sang cùng hèn.
Phật nói với vua :
- Trong đời trước vua là người hầu cận Tiên đế, thờ Phật lấy tín, thờ Pháp lấy tịnh, thờ Tăng lấy kính, thờ mẹ lấy hiếu, thờ vua lấy trung, thường giữ một lòng tinh tấn, bố thí, nhọc thân khổ thể, trước sau không sờn. Phước ấy theo thân sau nên mới được làm con vua chúa, nay sang giàu sao lại sanh lười biếng ? Phàm làm vua thì phải làm năm việc. Một là lãnh đạo và chăm nom muốn dân mà không lạm quyền; hai là nuôi dạy tướng sĩ tùy lúc mà xuất lúa kho cấp cho; ba là nhớ làm cho phước đức xưa đừng dứt; bốn là nên nghe lời khuyên can chánh trực của bầy tôi trung tín, không cho vào tai lời nói gièm pha thêu dệt mà hư việc lớn và hại người ngay; năm là tiết giảm lòng ham muốn vui sướng, phóng dật. Làm được năm việc ấy gọi là mở rộng bốn biển, rồi phước lộc tự đến. Bỏ năm điều ấy thì không còn kỷ cương, dân khốn ắt nghĩ đến làm loạn, hàng sĩ phu nhọc công can ngăn mà vô hiệu thì thế nước không lên. Hễ vô phước thì quỷ thần không còn hộ trợ, trung thần không dám can gián nữa. Tâm không kiềm được thì nước không trị được, tôi mà ác nghiệt thì dân nó oán. Ai lỗi lầm như thế thì thanh danh đều mất và về sau còn chịu nỗi vô phước. Phật lập lại ý trên bằng một bài kệ :
Phù vi thế gian tướng
Tu chánh bất a uổng
Điều tâm thắng chư ác
Như thị vi Pháp vương
Kiến chánh, năng thí huệ
Nhơn ái hảo lợi nhơn
Ký Iợi dĩ bình quân
Như thị chúng phụ thân. Dịch :
Phàm làm tưởng thế gian
Nên ngay chẳng nên cong
Sửa tâm thắng mọi ác
Như vậy là ‘Pháp vương”
Hiểu đúng, năng sáng cho
Nhơn ái lợi ích người
Cái lợi đà cân phân
Ai đâu chẳng khuông phò ?
Phật nói kệ xong, nhà vua mừng khôn xiết, đứng dậy trước Phật năm vóc gieo xuống đất sám hối lỗi lầm, tạ tội với Phật và vâng lãnh năm giới.
Phật nói pháp cho nghe liền đó được đạo Tu-đà-hoàn.
Phần 2

2- PHẬT DÙNG HÀO QUANG HÀNG PHỤC VOI THẦN

Thuở xưa, lúc Phật ở tại nước Xá-vệ nơi Tinh xá Kỳ Hoàn, nói về Vô thượng đại pháp cho bốn chúng đệ tử trời, người, vua và quan nghe, thì tại phía Nam nước này có một ngọn núi, rừng rú thâm u, bên trong có nhiều voi, .sắc bạch, sắc xanh và sắc đen. Nhà vua muốn có một con voi to, chiến đấu giỏi mới sai người vào rừng tìm bắt đem về giao cho quản tượng tập luyện, mong trong ba năm thì có thể cưỡi và cho giao đấu được.
lúc bấy giờ, có một con voi thần, nguyên là hóa sanh, mình trắng như tuyết, lông đỏ như son, hai ngà lóng lánh như vàng. Người đi săn voi thấy con voi tốt đẹp phi thường này liền tức tốc về tâu với vua và nói nếu được voi ấy để cho vua cưỡi thì thật là xứng đáng.
Vua bèn cấp cho người thợ săn ba mươi người trợ lực và dạy phải bắt cho được. Nội bọn đi vào rừng, đến chỗ voi ở và bủa lưới. Biết ý của đám người kia, voi thần tự thân đến nơi rồi cho rơi mình vào lưới. Đám thợ săn bu quanh lưới vừa muốn ra tay thì voi nổi giận quay mình tung ra mấy đá, anh nào ở gần thì gãy xương chết, anh nào ở xa thì ôm đầu chạy, voi đuổi theo không bỏ.
Trên sườn núi lúc ấy có một đạo sĩ thanh niên sức vóc mạnh mẽ, tu hành khá lâu mà chưa định ý được. Ở xa thấy voi đuổi theo đám người chạy chết, đạo sĩ động lòng thương, ỷ mình sức mạnh muốn ra cản đường con thú dữ để cứu họa kia Phật xa thấy các việc và sợ voi thần làm hai người tu, Phật liền tới nơi ngay và phóng một đạo hào quang sáng rực. Voi thấy hào quang của Phật, cơn giận dữ tiêu mất, không rượt đuổi bọn thợ săn nữa. Tỳ-kheo thấy Phât quỳ xuống làm lễ, Phật đọc cho một bài kệ : Vật vọng nhiễu thân tượng
Dĩ chiêu khổ thống hoạn
Ác ý vi tự sát
Chung bất chí thiện phương Dịch:
Chớ xằng quấy voi thần
Mà tự chiêu lấy họa
Ý ác là tự giết
Rốt chẳng đến nơi lành
Tỳ-kheo nghe kệ xong, cúi đầu làm lễ sám hối tạ lỗi, trong lòng rất ăn năn cái ỷ sức phi lý của mình.

3- PHẬT DÙNG THẦN LỰC HÀNG PHỤC QUỶ LA SÁT

Tích Phật ở núi Kỳ-xà-quật, đời vua Bình-sa, có một quan đại thần phạm tội nhưng được miễn nên lui về cất nhà ở phía Nam núi. Đây là một vùng ngoài biên thùy xa ngàn dặm, không bóng dáng một người cũng chẳng có trồng một thứ nào trong ngũ cốc. Nhưng kể từ sau ngày đại thần đến ở thì nước chảy đầy suối, năm thứ lúa khắp vùng. Dân dói rét bốn phương kéo đến rất đông. Quan cấp đất để cho làm ăn sinh sống. Mấy năm sau, dân số lên đến ba, bốn ngàn nóc gia. Trong dám có ba ông cụ già hơn hết, một hôm cùng bàn với nhau: Nước mà không vua cũng như thân mà không có đầu. Bàn xong cùng đưa nhau đến vị đại thần và cho biết quyết định cử ông lên làm vua. Đại thần nói với mấy vị kỳ lão : - Nếu quý vị quyết tôn tôi làm vua trong nước thì phải làm như phép nước của các vua khác, trong triều tả hữu đại thần, văn võ tướng sĩ, dưới trên chầu chực, gái đẹp đầy cung, ngoài dân gian thì tô thuế, lúa vải phải đóng đủ. Các bô lão thưa :
- Xin vâng, mọi việc tùy phép vua định đoạt.
Nói xong, các cụ tôn vị đại thần lên làm vua, sắp đặt quần thần văn võ trên dưới, mặt khác điều động dân chúng xây thành, dựng nhà, cung điện, lâu đài. Dân chúng cực khổ quá chịu không nổi, sự bất mãn mỗi ngày càng tăng lên sanh lòng muốn lật đổ nhà vua. Bọn gian thần lập mưu thỉnh nhà vua đi săn giải muộn. Khi xa giá ra khỏi thành độ ba bốn mươi dặm, đến một cái đầm to nơi hoang vắng, chúng bắt vua định giết. Vua hỏi tả hữu :
- Sao lại muốn hại ta ? Chúng đáp :
- Dân thích nhạc thì vua giữ lễ, dân khốn cùng nghĩ loạn thì đi đến nhà hư mất nước.
Vua nói - Các khanh tự làm chớ không phải ta vốn tạo, các khanh giết ta thì thần linh lẽ nào không biết. Vậy để ta phát một nguyện lớn rồi dầu có chết ta cũng không ân hận gì. Nói xong vua nguyện : Tôi vốn một lòng khai hoang cấy lúa nuôi dân, y như các nước khác mà cùng dân cùng làm, cùng ăn; nay dân phản tôi giết hại tôi trong khi tôi không làm gì ác. Vậy tôi chết rồi, nguyện làm quỷ La sát báo oán này. Nguyện rồi nhà vua tự vận chết.
Ba hôm sau thần thức của vua quả làm La sát, trở lại nhập vào xác chết và tự xưng là A-la-ba, rồi nhập cung giết vua mới cùng bọn gian thần, thể nữ. Nhưng La sát chưa nguôi cơn giận, ý muốn tàn sát hết dân chúng trong nước. Ba vị lão thần bèn tự trói tay đến nạp mình trước La sát, khóc thưa rằng :
- Việc ác xảy ra là do bọn gian thần, chúng dân nhỏ mọn nào có hay biết gì. Xin ngài tha thứ cho và trở lại trị nước như xưa. Xác vua hồn quỷ nói :
- Ta nay là La sát, làm sao chung chạ với loài người được, ăn thịt người, tánh tình nóng nảy, giận thì làm không suy nghĩ gì cả. Ba ông lão thưa :
- Nước là của vua lập ra, bởi vậy nên giữ như trước kia, miếng ăn, thức uống của vua, chúng tôi xin lo liệu đầy đủ và ngon. lành. Tâu xong, ba ông mới ra ngoài tuyên bố với toàn dân rằng từ nay, nhà này tới nhà kia, phải chọn mỗi ngày một đứa bé đem dâng cho nhà vua ăn thịt.
Trong ba bốn ngàn nhà trong nước, có một chủ nhà là đệ tử Phật, tuy là tu hành tại gia hết lòng tinh tấn, năm giới chẳng phạm. Anh ta cũng theo dân chúng đi khám từng nhà để tìm trẻ nít. Khi bắt được một đứa trẻ đầu tiên, vị cư sĩ này nghĩ đến cảnh nó bị ăn tươi nuốt sống, lòng đau như cắt, mới quỳ xuống hướng về núi Kỳ-xà-quật, lễ Phật và sám hối tội đã tham gia cuộc khám bắt đứa bé. Phật dùng mắt dạo, thấy nỗi đau khổ của cư sĩ, bèn nghĩ nên nhân việc đứa bé mà độ vô số người lớn. Đoạn một mình bay đến cửa cung của vua La sát hiện biến hào quang, chiếu sáng trong cung. La sát thấy hào quang, biết có dị nhơn, tức tốc xuất cung. Thấy Phật, quỷ ta sanh tâm độc, quyết ra tay trước, nhưng đôi mắt quỷ bị hào quang chói lòa không thấy gì hết, còn đá từ tay quỷ liệng ra và lửa từ miệng quỷ phun ra thì biến thành tro bụi. Xông xáo một hồi lâu mà không hại được, quỷ mệt mỏi quá bèn chịu thua và thỉnh Phật vào ngồi, xin Phật nói Kinh. Một lòng thính pháp xong, La sát thọ lãnh năm giới, làm Ưu-bà-tắc. Kế đó ra lệnh đem đứa bé đến. Cha mẹ đứa bé đưa nó đến cung, dọc đường vô số người đứng xem đều xót thương rơi lệ.
La sát bồng đứa bé đến trước Phật quỳ bạch;
- Thần dân trong nước định dâng đứa bé này cho đệ tử dùng làm bữa ăn, nhưng nay đệ tử đã quy y Phật quyết giữ năm giới nên không giết người ăn thịt nữa. Vậy kính dâng lên Phật.
Phật nhận đứa bé và chú nguyện cho nó. La sát rất vui mừng và ngay đó đắc quả Tu-đà-hoàn.
Phật đặt đứa bé vào trong bát, bay ra khỏi cung, đem trả cho cha mẹ nó và nói :
- Con của hai ông bà nay đã thoát nạn. Vậy hãy vui lên và ráng nuôi dưỡng nó, đừng buồn rầu nữa.
Dân chúng hết sức kinh ngạc, không biết vị thần nào mà tài phép như thế, đứa nhỏ kia làm gì mà được phước cứu tử, còn La sát sao lại để cho miếng ăn bị đoạt dễ dàng như vậy. Biết ý nghĩ của đám dông, Phật đọc cho họ nghe bài kệ :
Phần 3
Giới đức khả thị hổ
Phước báu thường tỳ kỷ
Kiến pháp vi nhơn trường
Chung viễn tam ác đạo
Giới thân trừ khủng úy
Phước đức tam giới tôn
Quỷ, long, xà độc hại
Bất phạm trì giới nhơn. Giới đức khá nhờ cậy
Phước báu tự mình trồng
Thấy pháp được sống lâu
Rốt xa ba nẻo ác
Răn cấm trừ sợ hãi
Phước đức ba cõi tôn
Quỷ, rồng, rắn độc hại
Chẳng phạm người giữ giới. Phật nói kệ xong, không biết bao nhiêu dân chúng thấy ánh sáng của Phật và biết rằng trong ba cõi không ai sánh bằng Phật, bèn tự quy y làm đệ tử Phật;

4- PHẬT KỂ NHỮNG TIỀN KIẾP LÀM CHUYỂN LUÂN VƯƠNG

Tích Phật tại nước Ba-la-nại, nơi sân Lộc Dã, vì trời, người, rồng, quỷ, vua và dân trong nước đông không biết bao nhiêu mà kể, nói pháp cho nghe. Lúc bấy giờ, vị Thái tử con nước lớn cùng với năm trăm Thế tử con của các vua tiểu bang, đưa nhau đến nơi Phật ở, làm lễ Phật rồi ngồi vào một phía nghe pháp.
Các vị con vua mới bạch Phật: - Phật đạo trong sạch nhiệm mầu, xa vời khó bắt kịp. Từ xưa đến nay, có bao nhiêu người con của bậc Quốc vương, Thái tử, quan to, nhà giàu lớn, bỏ nước, bỏ việc trị dân, bỏ ân ái, bỏ vinh hoa, bỏ vui sướng, mà làm Sa-môn vậy ? Phật đáp :
- Trên thế gian, đất đai, sang, vui, ân ái như huyễn, như hóa, như mộng, như tiếng vang, thoạt đến thoạt đi, chẳng khá giữ lâu dài. Lại nữa, các vị Thái tử con vua có ba việc do đó mà chẳng được đắc đạo. Ba việc đó là gì ? Một là kiêu ngạo, chẳng nghĩ đến việc học hỏi diệu nghĩa Kinh Phật, để lấy đó làm ích lợi cho tinh thần; hai là tham lam cố giữ, chẳng nhớ nghĩ đến việc bố thí cho kẻ nghèo nàn khốn ách, con các quan tướng sĩ thì chẳng biết xem của cải riêng mình là của dân để tu sửa cái vốn riêng của mình; ba là chẳng biết xa lìa sắc dục, ân ái vui chơi, buông bỏ những phiền não lao ngục ưu phiền đi làm Sa-môn diệt các khổ nạn, để lấy đó làm vốn tu thân. Do đó mà Bồ-tát sanh ra trong cung vua, trừ ba việc ấy, tự đặt mình vào vị trí thành Phật.
Lại có ba việc nữa. Ba việc ấy là gì ? Một là lúc nhỏ học vấn, lãnh việc cai trị nước nhà, suất hóa dân chúng, khiến làm mười thiện; hai là dùng tiền của ban cho người bần cùng cô quả, quần thần tướng sĩ cùng dân đồng vui; ba là mỗi khi tính toán phải nhớ mạng sống vô thường, chẳng ở lại với ta lâu ngày, vậy nên xuất gia, hành tác Sa-môn, đoạn nhân duyên khổ não, không còn trở lại sanh tử nữa. Ba việc này mà không thi hành thì không được gì cả. Phật lại nói thêm :
- Thuở xưa, trong tiền kiếp Ta làm Chuyển luân Thánh vương tên là Nam Vương Hoàng đế, đồ dùng toàn là bảy báu, cung son hý viện, với quần thần, thái tử, phu nhân, thể nữ, voi ngựa, mỗi thứ là bốn muôn tám ngàn, có một ngàn người con mạnh mẽ tinh nhuệ, một người có thể cự một ngàn người, phi hành trên không, châu du bôn hướng, tự tại trong việc làm, từ trước không ai hơn, đồng thọ tám muôn bốn ngàn tuổi, lấy pháp cai trị chẳng làm oan uổng nhân dân.
Lúc bấy giờ, Thánh vương tự nghĩ rằng : Mạng người ngắn ngủi, vô thường khó giữ, chỉ nên làm phước mà cầu đạo Chơn thường, nghĩ việc bố thí cho người thế gian, có bao nhiêu tiền của đều xem là của dân chúng. Đã trồng phước đức lại còn xuất gia, hành tác Sa-môn, đoạn tuyệt tham dục, được sự diệt khổ.
Vua dạy người chải đầu, nếu thấy tóc bạc thì cho vua biết. Trải qua muôn nằm, người chải đầu mới tâu vua : Tóc bạc đã sanh. Vua dạy nhổ và để lên mặt bàn tay. Thấy tóc bạc, vua khóc và nói : “Vị sứ giả thứ nhứt đã tới rồi. Nay đầu đã bạc thì đúng lúc xuất gia, hành tác Sa-môn, câu đạo tự nhiên”. Cầm tóc trong tay, vua tự thuyết bài kệ :
Ngã kim thượng lễ thủ
Bạch sanh vi bị đạo
Di hữu thiên sứ triệu
Thời chánh nghi xuất gia
Ta nay đầu đã bạc
Như người bị trộm rồi
Sứ trời nay đã gọi
Chính lúc nên xuất gia.
Liền triệu quần thần lập Thái tử làm vua, hành tác Sa-môn vào núi tu hành, đến lúc mạng chung, liền sanh lên cõi trời thứ hai, làm con Đế Thích. Về sau, lãnh việc cai trị thiên hạ và cũng làm Chuyển luân Thánh vương nữa. Lại cũng lệnh cho người chải đầu hễ nếu thấy có tóc bạc là phải trình tâu. Lâu lắm người chải đầu mới tâu là đã có tóc bạc. Vua lại truyền lệnh nhổ xem, rồi cầm trong tay mà đọc bài kệ : Ngã kim thượng lễ thủ
Bạch sanh vi bị đao
Dĩ hữu thiên sứ triệu
Thời chánh nghi xuất gia.
Rồi triệu quần thần, lập Thái tử lên ngôi, hành tác Sa-môn vào núi tu hành, hết tuổi thọ làm người, lại sanh lên trời, làm trời Đế Thích. Hưởng hết tuổi thọ làm Đế Thích, trở xuống thế gian làm con của Thánh vương. Vị Thánh vương thứ ba này rồi lại làm cha, làm con. Trên làm Thiên Đế, dưới làm Thánh vương, giữa làm Thái tử, mỗi mỗi 36 lần, tổng cộng ngàn muôn năm. Chung cuộc trở lại ban sơ. Làm ba việc ấy, tự đặt mình vào vị trí Phật.
Vua cha, lúc ấy nay là Ta vậy, Thái tử là Xá-lợi-phất, cháu của vua là A-nan. Vì lên xuống mấy mươi lần làm vua để giáo hóa thiên hạ, cho nên đặc biệt tôn xưng là trong ba giới không ai sánh kịp.
Phật thuyết xong, Quốc vương, Thái tử đồng hết sức vui mừng, nhận lãnh năm giới của Phật làm Ưu-bà-tắc được đạo Tu-đà-hoàn.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục