Buddha.com.vn

QUYỂN THỨ TƯ PHẨM THỨ BA MƯƠI HAI - ÁI DỤC (tiếp theo)

01/02/2016

QUYỂN THỨ TƯ PHẨM THỨ BA MƯƠI HAI ÁI DỤC (tiếp theo) 3- PHẬT DÙNG THẦN THÔNG ĐỘ ÔNG TRƯỞNG GIẢ NHỚ LẠI TIỀN KIẾP Xưa kia, lúc Phật ở nước Xá-vệ nói pháp cho trời, người nghe. Trong thành có một người Bà-la-môn sang cả, t...

QUYỂN THỨ TƯ PHẨM THỨ BA MƯƠI HAI - ÁI DỤC (tiếp theo)
Phần 1

QUYỂN THỨ TƯ PHẨM THỨ BA MƯƠI HAI ÁI DỤC (tiếp theo)
3- PHẬT DÙNG THẦN THÔNG ĐỘ ÔNG TRƯỞNG GIẢ NHỚ LẠI TIỀN KIẾP

Xưa kia, lúc Phật ở nước Xá-vệ nói pháp cho trời, người nghe. Trong thành có một người Bà-la-môn sang cả, tiền của không kể xiết, vì ông Keo kiết tham lam, tích trữ mà chẳng cho ra. Đến bữa ăn, ông ta đóng chặt cửa lại, chẳng muốn thấy khách đến vào giờ ấy, nhất là những người ăn xin, những thầy Sa-môn, Phạm Chí thì đừng mong gặp ông.
Một hôm, Trưởng giả muốn ăn ngon, mới bảo vợ lo sắn xếp một bữa thịnh soạn, bắt một con gà thật mập làm thịt chưng gừng. Cơm nước lo xong ông ra lệnh cho gia nhơn đóng kín các cửa lai rồi vợ chồng và đứa con đồng ngồi vào bàn, ông bà thay phiên xé thịt đút cho con.
Phật biết chủ nhà là người có căn tu đáng được hóa độ, bèn hóa ra một thầy Sa-môn xuất hiện ngay trước mặt Trưởng giả, miệng nói : “Xin ít nhiều bố thí, sẽ được giàu to”.
Trưởng giả ngước lên nhìn thấy quát tháo : Ông là nhà tu hành sao chẳng biết xấu hổ, trong nhà người ta đang ăn sao đường đột như vậy? Thầy Sa-môn đáp :
- Chính ông là người ngu si nên không biết xấu hổ, còn ta làm Sa-môn, có gì là xấu hổ ! Trưởng giả hỏi :
- Tôi và gia đình đang ăn uống vui vẻ với nhau có gì là xấu hổ ?
- Ông giết cha cúng dường cho kẻ thù mà không biết, như vậy chẳng đáng xấu hổ sao ?
Tiếp theo Phật đọc bài kệ :
Sở sanh chi bất tuyệt
Đản dụng thực tham dục
Dưỡng oán ích khưu trủng
Ngu nhơn thường cấp cấp
Tuy ngục hữu câu diệp
Huệ nhơn bất vị lao
Ngu kiến thê tử sức
Nhiễm trước ái thậm lao
Huệ thuyết ái vi ngục
Thâm cố nan đắc xuất
Thị cố đương đoạn khí
Bất thị dục vi an.
Dịch:
Cành sanh tử chẳng cắt
Chỉ tại ăn tham muốn
Nuôi oán đắp mộ cao
Người ngu thường mài miệt
Tuy ngục có câu móc
Người sáng chẳng mắc đâu
Ngu thấy vợ con đẹp
Sanh lòng yêu nhọc nhằn
Trí bảo yêu là ngục
Dày chắc không thể thoát
Vì vậy nên đập gãy
Đừng lấy muốn làm an.
Nghe kệ, Trưởng giả hốt hoảng hỏi :
- Tại sao đạo nhơn lại nói như vậy ?
- Con gà ông đang ăn thịt đời trước là cha của ông, vì tham lam quá độ nên nay làm gà để cho ông ăn. Còn thằng con của ông thuở xưa làm quỷ La sát và cha ông là khách buôn hay ngồi thuyền vượt biển, chẳng may rơi vào tay La sát bị nó ăn tươi. Chuyện đã xảy ra năm trăm năm trước. Nay vì ông còn chút tội dư, quỷ kia lại sanh làm con ông, chờ ngày làm hại. Đến như bà vợ của ông thì đời trước thật là mẹ ông, nhưng vì mê luyến ái ân cho nên nay trở lại thế gian làm vợ ông. Ông mê muội không biết đời trước của mình, giết cha nuôi oán, lấy mẹ làm thê, năm đường sanh tử lộn vòng không biết đâu là ngừng, ai là người hiểu biết lẽ này ? Chỉ có hàng đạo sĩ mới thấy đây thấy kia, kẻ ngu si chẳng biết gì, há chẳng lấy đó làm xấu hổ sao ?
Trưởng giả bỗng dưng tóc râu dựng đứng ra vẻ khiếp sợ vô cùng. Phật hiện oai thần, ra lệnh cho Trưởng giả nhớ lại tiền kiếp, quỳ lạy sám hốì và lãnh năm giới, Phật thuyết pháp cho nghe và ngay đó Trưởng giả được đạo Tu-đà-hoàn.

4- PHẬT ĐỘ MỘT TỲ KHEO TRẺ TUỔI VƯỢT KHỎI ÁI DỤC

Phật đang thuyết pháp tại Tinh xá Kỳ Hoàn, nước Xá-vệ, thì có một Tỳ-kheo trẻ vào thành đi dài theo đường khất thực. Gặp cô gái đoan chánh không ai bằng, thầy ta vì lòng phàm chưa dứt, đâm ra mê mệt thậm chí đến khi trở về Tinh xá bữa ăn hôm ấy không tiêu, rồi từ đó nhan sắc tiều tụy, nằm hoài chẳng dậy. Bạn đồng tu đến hỏi thăm, thầy trình thật tự sự và nói thêm muốn hủy đạo tâm để theo ái dục nhưng ý nguyện không thành cho nên rầu quá mà sanh bệnh. Bạn đồng học hết lòng giảng du, chẳng có lời nào vào tai thầy. Họ bèn xúm nhau dìu độ người bệnh đến trước Phật và đem sự thật trình lên.
Phật nói với tiểu Sa-môn :
- Chuyện ông muốn có gì khó đâu, sầu muộn làm gì, Ta sẽ vì ông mà phương tiện giải quyết, bây giờ hãy ăn uống cho lại sức đi.
Tỳ-kheo nghe Phật nói, mừng vui khôn xiết, trong chốc lát bao nhiêu uất ức nghẹn ngào tiếu mất.
Phật bèn dẫn thầy Tỳ-kheo và tất cả môn đệ vào thành, đến nhà cô gái đẹp. Thì ra cô đã chết ba ngày rồi, cha mẹ quá thương chưa chịu hỏa táng, thi hài còn đó, mùi hôi hám đã xông ra. Phật kêu Tỳ-kheo nói :
- Đó, cô gái đoan trang ông mong ước nay là như thế, ông thấy chưa ? Vạn vật vô thường, biến đổi từng cái thở ra hít vào, người ngu chỉ thấy cái bề ngoài liền lạc bóng dáng mà không thấy cái bên trong dời đổi xấu xa, tự đan lưới rồi lấy đó làm vui.
Phật nói tới đây, đọc lên bài kệ :
Kiến sắc tâm mê hoặc
Bất duy quán vô thường
Ngu dĩ vi mỹ thiện
An tri kỳ phi Chơn
Dĩ dâm lạc tư lý
Thí như tàm tác kiến
Trí giả năng đoạn khí
Bât niệm trừ chúng khổ
Tâm niệm phóng dật giả
Kiến dâm dĩ vi tịnh
Ân ái ý thạnh tăng
Tùng thị tạo lao ngục
Giác ý diệt dâm giả
Thường niệm bất dục tịnh
Tùng thị xuất tà ngục
Năng đoạn lão tử hoạn
Dịch:
Thấy sắc lòng say đắm
Vô thường lẽ không suy
Ngu lấy sắc làm đẹp
Nào hay chẳng phải chơn
Nhốt mình trong dâm lạc
Kết kén tằm đâu hơn
Người trí dứt bỏ cả
Khổ đâu còn lo trừ
Tư tưởng để buông lung
Dâm dục cho là sạch
Ân ái lòng càng tăng
Thì tự xây tù ngục
Người tỉnh diệt ý dâm
Thường nghĩ dâm chẳng tịnh
Nhờ vậy ra khỏi ngục
Năng dứt nạn già chết
Thấy người đẹp bây giờ mặt mày phình lên nhợt nhạt thêm hôi thúi không thể đứng gần, lại nghe bài kệ thức tỉnh của Phật, thầy Tỳ-kheo trẻ tuổi nhận biết sự mê lầm của mình bèn dập đầu tạ tội, ăn năn lỗi mình. Phật dẫn thầy về Tinh xá Kỳ Hoàn và từ ấy thầy quyết tâm tu học, dầu chết không nài, về sau được đạo A-la-hán.
Phần 2

5- PHẬT KHUYÊN ÔNG TRƯỞNG GIẢ BỊ RỂ GIẾT CON GÁI ÔNG

Thuở xưa, lúc Phật ở tại Tinh xá nước Xá-vệ thuyết pháp cho loài trời, rồng, quỷ nghe, thì ở thế gian có một vị Trưởng giả giàu có, tiền của vô số, nhưng con cái thì chỉ có một cậu trai mười hai mười ba tuổi thôi. Vì con một, nhà lại hào phú, cậu này ăn rồi ở không, trong tay chẳng có một nghề, việc nhà cũng không hay biết. Sau khi cha mẹ qua đời chẳng mấy năm, tài vật tiêu sạch, cậu chẳng biết làm gì nuôi thân phải đi ăn xin. Một người bạn thân với cha cậu, cũng là nhà giàu lớn, thấy vậy thương tình, đem cậu về nuôi rồi gả con cho, lại cấp cho đứa ăn người ở, xe cộ bạc tiền, hơn nữa xây nhà dựng cửa thật là đồ sộ. Nhưng lại quen thói ỷ lại biếng lười, cậu không biết sinh hoạt là gì, cứ ngồi không ăn tiêu phung phí, chẳng bao lâu tài sản không còn gì, trở lại túng thiếu đói nghèo như trước.
Cha vợ hết sức bất mãn, nghĩ đến gả con bù của, càng thêm chán ngán. Ông hội thân tộc lại bàn về ý ông muốn bắt con lại để gả nơi khác. Cô gái nghe thấy được lật đật chạy về cho chồng hay tự sự và hỏi chồng coi có kế gì chống lại ý của cha nàng không. Nghe xong, chàng xấu hổ tự nghĩ thấy, trăm sự tại mình bạc phước, cha mẹ mất sớm lại không tập làm ăn sinh sống cho nên nay phải lâm vào cảnh mất vợ và trở lại đi xin tình ái ân thà chết chớ ai chịu cảnh sanh ly. Càng nghĩ đến chồng một nơi vợ một ngả, chàng càng tuyệt vọng. Một ý niệm khốc hại đến với chàng : Sống đồng tịch đồng sàng, thác đồng quan đồng quách. Chàng đưa vợ vào phòng khóa chặt cửa lại, đâm vợ chết rồi tự đâm lấy mình. Tôi tớ trong nhà hốt hoảng phi bảo với Trưởng giả. Mọi người bên nhà vợ từ bé đến lớn lật đật chạy đến thì việc đã rồi, chỉ còn nước tẩn liệm hai thi hài và đưa đi hỏa táng như thường lệ. Trong lúc thương tiếc con không nguôi, Trưởng giả nghe đồn có Phật ra đời đang thuyết pháp giáo hóa, ai được thấy Phật thì lòng đầy hoan hỷ, bao nhiêu ưu sầu đều tiêu hết. Ông bèn đưa người nhà đến nơi Phật trú, vào làm lễ xong, ngồi vào một góc. Phật hỏi Trưởng giả đến có việc gì và tại sao có vẻ buồn rầu như thế ?
Ông bạch Phật :
- Kẻ tại gỉa này là người chẳng đức, chỉ có một gái lại gả nhằm đứa ngu, tiền bạc cấp cho cứ ngồi không ăn, chẳng một kế sanh nhai. Giận quá tôi định bắt con gái về gả chỗ khác thì chàng rể quý của tôi giết vợ và tự sát, đám táng vừa xong trên đường về xin vào đây hầu Thế Tôn.
Phật nói với ông Trưởng giả : - Tham muốn giận hờn thường là bệnh của người đời, còn ngu si không trí là của hoạn họa. Ba cõi năm đường đều do đấy mà rơi vào hố, lăn lộn trong sanh tử không biết bao nhiêu kiếp mà nói. Biết bao nhiêu người chịu khổ muôn bề mà còn chẳng biết ăn năn hối cải hà huống kẻ ngu muội làm sao biết được lẽ này. Cái độc của tham muốn nguy hại vô cùng, nó có thể giết hại thân mình luôn cả họ hàng thân tộc và tất cả chúng sanh, nào phải giới hạn trong vòng vợ với chồng. Nói xong Phật đọc bài kệ :
Ngu dĩ tham tự phước
Bất cầu độ bỉ ngạn
Tham vi tài ái cố
Hại nhơn diệc tự hại
Ái dục ý vi điện
Dâm nộ si vi chủng
Cố thí độ thế giả
Đắc phước vô hữu lượng
Bạn thiểu nhi hóa đa
Thương nhơn hữu dịch cụ
Thi dục tộc hại mạng
Cố huệ bất tham dục.
Dịch:
Ngu lấy tham tự trói
Chẳng cầu sang bờ kia
Tham vì thương tiền của
Hại người cùng tự hại
Ruộng là ý muốn ưa
Giống là dâm, ngu, giận
Bởi cớ ban cho khắp
Được phước không lường vậy
Khách ít mà hàng nhiều
Nhà buôn nên sợ hãi
Ham muốn vật hại mạng
Người sáng chẳng ham muốn.
Trưởng giả nghe Phật nói kệ xong lòng mừng vui hớn hở, bao nhiêu sầu muộn đều tiêu tan rồi cùng người lớn kẻ nhỏ trong gia quyến và các thính giả phá trừ hai mươi ức ác nghiệp, đồng được đạo Tu-đà-hoàn

PHẬT ĐỘ HAI VỊ XUẤT GIA MÀ CÒN TƯ TƯỞNG ÁI DỤC

Một lúc nọ, khi Phật ở Tinh xá nước Xá-vệ thuyết pháp cho trời, rồng, thần, vua, dân nghe. Có hai chàng lêu lỏng chơi bời kết bạn với nhau rất là thân thiết, đi đâu cũng như bóng với hình. Một hôm, hai người cùng bàn tính và đồng ý muốn làm Sa-môn. Họ bèn đưa nhau đến nơi Phật ở, vào trong lễ Phật cúi mọp xoa tay bạch Phật :
- Chúng tôi muốn làm Sa-môn, xin Phật nhận cho.
Phật chấp thuận, cho làm đệ tử và dạy hai người cùng ở chung một phòng.
Tánh nào tật nấy, tuy đã xuất gia, hai chàng không nghĩ gì đến việc tu hành mà mơ tưởng đến chuyện thế gian ân ái không lúc nào dứt bỏ được, vì vậy mà chẳng bao lâu sanh bệnh.
Với đôi mắt huệ Phật thấy biết hai chàng tư tưởng đang loạn, tâm ý đang chạy theo dục lạc, không định vào việc tu hành cho nên không tiến bước
Phần 3

trên con đường đạo hạnh được. Phật bèn hóa ra một người vào phòng của hai Sa-môn kiếm cách đưa một người ra ngoài rồi nói với người còn ở lại :
- Tôi biết ông đang nghĩ nhớ những gì, tôi cũng thế, chúng ta đồng tâm với nhau, Cứ ngồi nằm mơ tưởng như vầy mãi thì lao nhọc vô ích, chi bằng chúng ta cùng đi tìm sắc đẹp, tận mắt ngắm nhìn, có phải thỏa thích hơn không ?
Sa-môn biểu đồng tình và đi theo người khách lạ đến một., xóm bình khang. Một gái điếm do Phật hóa ra, đón hai người vào nhà. ông khách của Sa-môn mở lời :
Hai anh em chúng tôi là đệ tử của Phật, đã thọ cấm giới chẳng để thân phạm điều dâm dục. Hôm nay đến đây chỉ có một việc là cô cho chúng tôi xem coi hình dung của một cô gái đẹp như thế nào vậy thôi.

Cô gái không do dự, lần lượt cởi bỏ các vật trang sức như chuỗi ngọc, hoa tai, vòng xuyến, rồi tới áo ngoài áo trong đến mức lõa thể hoàn toàn. Bỗng một mùi hôi thúi xông ra làm cho thầy Sa-môn chịu không nổi phải dang ra xa. Người khách mới kêu thầy nói :
- Các cô gái mà đẹp là nhờ phấn sáp, xông hương ướp hoa, áo quần màu sắc lộng lẫy, tất cả những thứ ấy, thật ra là để che đậy cái hôi hám của mùi hôi, cũng như thân ta là một cái đãy da nào phân nước tiểu, toàn là vật dơ bẩn hôi thúi, có gì đáng ham đáng muốn ?
Nói xong, vị khách đọc bài kệ :
Dục ngã tri nhữ bổn
Ý dĩ tư tưởng sanh
Ngã bất tư tưởng nhữ
Tắc nhữ nhi bất hữu
Tâm khả tắc vi dục
Hà tất trọc ngũ dục
Tốc khả tuyệt ngũ dục
Thi hài vi dõng lực
Vô dục vô sở úy
Điềm đạm vô ưu hoạn
Dục trừ sử kết giải
Thị vi trường xuất uyên

Dịch:
Này hỡi dâm dục kia
Ta biết cội nguồn rồi
Tội ấy là ý niệm
Do tư tưởng sanh ra
Ta chẳng tưởng tới ngươi
Thì ngươi làm gì có
Tâm đủ phạm tội dục
Nào riêng năm món dục
Kíp nên trừ năm dục
Được vậy mới người hùng
Không dục không gì sợ
Lặng lẽ không lo buồn
Dục trừ trói trăn cởi
Một nhảy lên khỏi hầm
Phật nói kệ xong hiện tướng quang minh. Sa-môn vừa xấu hổ và ăn năn lỗi mình, dập đầu cúi lạy xin Phật nói pháp lại cho nghe. Nghe rồi Sa-môn lòng mừng hớn hở, giải thoát tình dục, liền chứng quả A-la-hán.
Người Sa-môn đi vắng bây giờ trở về thấy bạn dung nhan vui vẻ khác hơn ngày thường mới hỏi nhờ đâu được vậy. Bạn ông đem đầu đuôi câu chuyện đã được Phật từ mẫn độ cho kể lại, rồi chấm dứt bằng một bài kệ :
Trú dạ niệm thị dục
Ý tẩu bất niệm hưu
Kiến nữ dục ô lộ
Tưởng diệt tất vô ưu

Dịch:
Ngày đêm mơ ham muốn
Ý loạn, niệm chẳng dừng
Mê gái mê hôi hám
Tưởng dứt, ắt hết phiền.
Người bạn của Sa-môn nghe kệ rồi, để tâm suy nghĩ đoạn dục diệt tưởng, liền được Pháp nhãn.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục