PHẨM THỨ BA MƯƠI CHÍN - KIẾT TƯỜNG
04/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI CHÍN - KIẾT TƯỜNG PHẬT NÓI ĐIỀM AN LÀNH RỐT RÁO Thuở xưa, Phật ở nước La Duyệt, trong núi Kỳ-xà-quật, vì các loài trời, người, rồng và ma thuyết pháp ba thừa. Lúc bấy giờ, tại phía Nam núi vừa nói, trên...

PHẨM THỨ BA MƯƠI CHÍN - KIẾT TƯỜNG
PHẬT NÓI ĐIỀM AN LÀNH RỐT RÁO
Tu sĩ đáp : - Câu hỏi rất hay ! Ở cõi Diêm-phù-dề này có mười sáu nước lớn và bốn muôn tám ngàn nước nhỏ, mỗi nước đều có điềm an lành, hoặc có vàng, có bạc, thủy tinh, lưu ly, minh nguyệt, hoặc voi ngựa, xe cộ, ngọc nữ, san hô, phụng hoàng, chim công, chim sẻ, hoặc lấy mặt trời, mặt trăng, các vì sao, làm điềm an lành. Này các đệ tử, đó là các điềm an lành mà dân chúng các nước vui đón. Các môn đồ lại bạch: - Bạch thầy, còn có điềm an lành nào hơn nữa không, nhất là có ích lợi cho thân mình, thí dụ như chết rồi được sanh về cõi trời ? Tu sĩ đáp : - Điều ấy thầy ta xưa không có dạy mà cũng không thấy ghi chép trong sách vở nào. Các đệ tử thưa : - Gần đây chúng con có nghe một người trong giòng họ Thích bỏ nhà đi tu, ngồi ngay sáu năm, hàng phục Ma vương, đắc dược quả Phật, tam đạt a) vô ngại. Vậy chúng ta thử đến hỏi bậc bác học đó xem.
Thầy trò đồng ý kéo nhau theo đường núi đến nơi Phật ở, làm lễ Phật, ngồi vào chỗ dành cho hàng Phạm Chí, rồi xoa tay quỳ mọp bạch Phật :- Bạch Thế Tôn ! Các nước đều lấy việc có nhiều vàng bạc của báu làm điềm tốt. Chẳng biết có điềm nào tốt hơn không ? Phật đáp : - Lời luận của các ông là theo thế sự, hễ điều gì thuận với mình cho là kiết tường, nghịch lại cho là hung họa, toàn là những điều không thể cứu vớt tinh thần, độ thoát khổ não. Còn pháp kiết tường của Ta thì ai hành pháp ấy chắc chắn được phước, vĩnh viễn xa lìa ba cõi, tự đặt mình vào cõi Niết-bàn. Nói tới đây, Phật bèn đọc bài kệ :
Phật tôn quá chư Thiên
Như Lai thường hiện nghĩa
Hữu Phạm Chí đạo sĩ
Lai vốn hà kiết tường
Ư Phật thị mẫn thương
Vị thuyết Chơn hữu yếu :
Dĩ tín nhạo Chánh pháp
Thị vi tối kiết tường
Diệc bất tùng thiên nhơn
Hy vọng cầu kiểu hạnh
Diệc bất đảo thần tử
Thị vi tôí kiết tường
Hữu hiền trạch hiện cư
Thường tiên vi phước đức
Chỉnh thân thừa Chơn chánh
Thị vi tối kiết tường
Khử ác tùng tựu thiện
Tị tửu tri tự tiếc
Bất dâm ư nữ sắc
Thị vi tối kiết tường
Đa văn như hành giới
Phật luật tinh tấn học
Tu kỷ vô sở tránh
Thị vi tối kiết tường Cư hiếu sự phụ mẫu
Trị gia dưỡng thê tử
Bất vi không phạm hạnh
Thị vi tối kiết tường
Bất mạn bất tự đại
Tri túc linh phản phục
Dĩ thời tụng tập kinh
Thị vi tối kiết tường
Sở văn thường dục nhẫn
Nhạo dục kiến Sa-môn
Mỗi giảng nhiếp thính thọ
Thị vi tối kiết tường
Trì trai tu phạm hạnh
Thường dục kiến hiền minh
Y phục minh trí giả
Thị vi tối kiết tường
Dĩ tín hữu đạo đức
Chánh ý hướng vô nghi
Dục thoát tam ác đạo
Thị vi tối kiết tường
Đẳng tâm hành bố thí
Phụng chư dắc đạo giả
Diệc kính chư Thiên nhơn
Thị vi tối kiết tường
Thường dục ly tham dâm
Ngu si sân nhuế ý
Năng tập thành đạo kiến
Thị vi tối kiết tường
Nhược dĩ khí phi vụ
Năng cần tu đạo dụng
Thường sự ư khả sự
Thị vi tối kiết tường
Nhứt thiết vi thiên hạ
Kiến lập đọ từ ý
Tu nhân an chúng sanh
Thị vi tối kiết tường
Trí giá cư thế gian
Thường tập kiết tường hạnh
Tự trí thành huệ kiến
Thị vi tối kiết tường
Vì là nghĩa chơn thật
Có Ni-kiền tu sĩ
Đến hỏi về điềm lành
Phật bèn rủ lòng thương
Nói những điều cốt yếu
Vui tin nghe Chánh pháp
Ấy điềm lành cao tột
Cũng đừng theo trời người
Hy vọng việc cầu may
Cũng đừng cúng bái thần
Ấy điềm lành cao tột
Chọn hiền ở trong lành
Lại thường làm phước đức
Sửa thân theo chơn chánh
Ấy điềm lành cao tột
Bỏ ác về cùng lành
Tránh rượu biết tiết giảm
Chẳng dâm nơi nữ sắc
Ẩy điềm lành cao tột
Học nhiều lại giữ giới
Tinh tấn học pháp luật
Sửa mình không tranh chấp
Ấy điềm lành cao tột
Giới hiếu thờ cha mẹ
Trị nhà nuôi vợ con
Chẳng ăn không ngồi rồi
Ẩy điềm lành cao tột
Chẳng phách chẳng tự cao
Biết thế để quay đầu
Dành lúc tụng tập Kinh
Ấy điềm lành cao tột
Chỗ nghe thường thích nhẫn
Ưa muốn gặp Sa-môn
Mỗi lời thầy nghe lãnh
Ấy điềm lành cao tột
Ăn chay giữ thanh tịnh
Thường muốn thấy bậc hiền
Nương tựa người trí sáng
Ẩy điểm lành cao tột
Có tin, có đạo đức
Chánh ý hết nghi ngờ
Muốn thoát ba đường ác
Ấy điềm lành cao tột
Tâm bình làm bố thí
Thờ các vị đắc đạo
Và kính các trời người
Ấy điềm lành cao tột
Thường xa lìa tham dâm
Ý ngu si sân nhuế
Hay tạo thành kiến chấp
Ấy điềm lành cao tột
Nếu lỡ làm chẳng phải
Nên cầu tu đạo dụng
Thường thờ nơi đáng thờ
Ấy điềm lành cao tột
Tất cả trong thiên hạ
Đều lấy mắt mà ngó
Làm nhân an chúng sanh
Ấy điềm lành cao tột
Người trí ở thế gian
Thường tập hạnh an lành
Tự ban mình huệ kiến
Ấy điềm lành cao tột. Tu sĩ Ni-kiền và các đệ tử nghe Phật thuyết kệ xong, lòng vui ý giải, hết sức hoan hỷ, bèn cùng nhau bạch Phật : - Bạch Thế Tôn ! Thật là mầu nhiệm vô cùng ! Thật là hy hữu ! Vì bấy lâu mê muội nên chúng tôi chưa thấy rõ ràng. Nguyện Thế Tôn thương xót cứu vớt, chúng tôi xin tự quy y Phật pháp, được làm Sa-môn, theo chân Phật hành đạo. Phật nói : - Lành thay ! Vậy các Tỳ-kheo hãy lại đây. Phật nói xong, thầy trò tu sĩ trở thành Sa-môn, trong an ổn, còn vô số thính giả đều được Pháp nhãn. Thường tập kiết tường hạnh Tự trí thành huệ kiến Thị vi tối kiết tường
Thường tập hạnh an lành Tự ban mình huệ kiến Ấy điềm lành cao tột.
Tu sĩ Ni-kiền và các đệ tử nghe Phật thuyết kệ xong, lòng vui ý giải, hết sức hoan hỷ, bèn cùng nhau bạch Phật : - Bạch Thế Tôn ! Thật là mầu nhiệm vô cùng ! Thật là hy hữu ! Vì bấy lâu mê muội nên chúng tôi chưa thấy rõ ràng. Nguyện Thế Tôn thương xót cứu vớt, chúng tôi xin tự quy y Phật pháp, được làm Sa-môn, theo chân Phật hành đạo. Phật nói : - Lành thay ! Vậy các Tỳ-kheo hãy lại đây. Phật nói xong, thầy trò tu sĩ trở thành Sa-môn, trong an ổn, còn vô số thính giả đều được Pháp nhãn.trích báo hải triếu âm
1- NGOAN CỐ
Thầy Tissa mặc dù mới xuất gia nhưng ỷ mình là em thúc bá với Phật, lại thêm lớn tuổi đời nên thường tỏ ra ngã mạn, không chào hỏi kính trọng bất cứ vị Tỳ-kheo nào, dù vị ấy đã xuất gia lâu năm và lớn tuổi hơn mình. Một hôm, có các thầy Tỳ-kheo tha phương đến chùa Kỳ Viên yết kiến và vấn an Đức Phật. Thấy Tissa lớn tuổi ngồi chễm chệ trong nhà khách, các vị lầm tưởng là một vị Thượng tọa Trưởng lão, nên đồng nhau quỳ lạy Tissa. Theo luật đạo thì Tissa phải hỏi xem quý vị được bao nhiêu tuổi đạo và đảnh lễ tiếp rước chu đáo mới phải, đằng này thầy mặc nhiên ngồi nhận lễ. Các vị Tỳ-kheo lạy thầy Tissa xong bèn hỏi thầm thì vỡ lẽ ra là thầy Tissa mới xuất gia, mới tu mà dám nhận lễ. Trước lời chỉ trích có tính cách xây dựng ấy, thầy Tissa chẳng những không nhận lỗi mà còn sân si vu khống các thầy Tỳ-kheo đến làm nhục mình rồi vùng vằng đứng lên bỏ đi mách Phật.Tuy biết tánh Tissa quá nhiều, Đức Phật vẫn cho gọi các thầy Tỳ-kheo đến hỏi. Sau lời trình bày của các vị ấy, Đức Phật dạy Tissa xin lỗi, nhưng thầy ngoan cố nhứt định không nghe và cứ một mực bảo rằng mình không có lỗi. Nhân câu chuyện này Đức Phật dạy : “Này các Tỳ-kheo ! Kiếp trước thầy Tissa cũng ngoan cố khó dạy và suýt bị nguy đến tánh mạng”. Các vị Tỳ-kheo yêu cầu Phật kể chuyện tiền kiếp của thầy Tissa. Theo lời yêu cầu Đức Phật liền kể : - Này các Tỳ-kheo ! Thuở quá khứ có một vị đạo sĩ tên là Devila đến xin ở tạm trong một nhà trống của một người thợ gốm. Hôm sau, có một đạo sĩ khác tên là Narada cũng đến xin ở chung.
Đêm đến, Narada nhường chỗ cho Devila ngủ ở ngoài gần cửa ra vào, còn mình thì nằm nghỉ phía trong nhà. Trước khi ngủ Narada quan sát cửa nẻo, nhận định phương hướng, ghi nhớ chỗ ngủ của Devila cũng như của mình rồi đi nằm.
Đến khuya cần đi ra ngoài, Narada dè dặt, chậm chạp đi vòng phía dưới chân của Devila để ra ngoài, nhưng không may, Narada đạp nhằm đầu tóc của Devila vì ông này nằm trở đầu trước khi ngủ. Ông ta nổi giận mắng nhiếc om sòm, Narada năn nỉ và xin lỗi. Lúc trở vào Narada cẩn thận hơn, đi thật nhẹ và mò mẫm lần theo phía dưới chân của Devila. Nhưng lẫn này Devila lại nằm xoay đầu lại và trồi lên cao một chút, nên Narada lần thứ hai đạp nhằm cổ Devila. Ông này nổi trận lôi đình chửi bới om sòm và còn rủa độc là : “Khi nào mặt trời mọc thì đầu của Narada sẽ bị bể làm bảy miếng”. Nhờ Thiên nhãn minh, Narada thấy rõ đạo sĩ Devila sẽ bị mắc lời nguyền rủa ấy. Động lòng trắc ẩn, ngài Narada bèn dùng thần thông ngăn không cho mặt trời mọc.
Dân chúng xôn xao vì giờ đã quá trưa mà trời vẫn tối đen như mực. Họ tự động thắp đuốc đến đền vua yêu cầu nhà vua giải quyết tình trạng bất thường ấy. Trước tình trạng thần hôn địa ám, đức vua cũng đành bất lực. Đức vua nghĩ chỉ có những vị tu hành đắc đạo mới rõ việc này, nên ngài đích thân đến phước xá của người thợ gốm xin hội kiến với hai vị đạo sĩ. Được Narada cho biết lý do, đức vua yêu cầu ngài tìm cách cứu Devila. Ngài Narada dạy : Nếu Devila chịu xin lỗi thì ngài mới cứu được. Nhưng Devila quá ngoan cố, nhứt định không chịu lỗi. Không biết làm sao hơn, ngài Narada bèn bày cho đức vua bắt Devila đứng dưới nước tới cổ, lấy đất sét tô lên đầu và dặn khi nào mặt trời mọc lên thì bảo Devila hụp đầu xuống nước. Thật lạ làm sao, mặt trời vừa rọi vào đầu Devila thì lớp đất sét trên đầu ông ta tức khắc bể làm bảy miếng.
Kể đến đây, Đức Phật kết luận : Này các thầy Tỳ-kheo ! Devila tức là tiền kiếp của Tissa vậy. Ông ta ngoan cố khó dạy như vậy đó.
Để khuyên Tissa, Đức Phật bèn ngâm kệ :
Akkocchi mam avadhỉ mam Ojjni nam ahasi me Ya ca tam upanayhanti Veram tesam na sammati Akkocchi mam avadhimam Ojjni nam ahasi me
Ya ca tam upanayhanti Veram tesupassammati.
Nếu người đời cồn nghĩ rằng :
• “Họ chửi tôi, giết tôi, hạ nhục tôi và cướp đoạt của tôi” thì oán thù của người ấy sẽ không bao giờ chấm dứt.
Nếu người đời không nghĩ rằng
“Họ chửi tôi, giết tôi, hạ nhục tôi và cướp đoạt của tôi” thì oán thù của người ấy sẽ được chấm dứt.
Kết luận : Muôn chấm dứt mọi oán thù, người đời phải cởi bỏ ý niệm buộc trói vì nó là nguyên
nhân đưa đến hận thù. Ví dụ, những sợi tơ không ngay thẳng cong queo thường sanh ra sự rối rắm. Muốn gỡ rối, người ta phải bình tĩnh chịu khó gỡ lần, cũng như thế ấy, oán thù là kết hình của ý niệm ngoan cố. Ý niệm ngoan cố là nhân, oán thù là quả. Vậy muốn chấm dứt oán thù thì không chi bằng chặn đứng ý niệm buộc trói. Vì lẽ nếu mình không nghĩ rằng người khác chửi mắng, giết hại, làm nhục mình thì mặc cảm, oan ghét sẽ không bao giờ phát sanh lên được.
2- CHỐNG ĐỐI
Thuở xưa, Phật còn tại thế, ở chùa Ghositaràma có hai vị Tỳ-kheo, một vị Luật sư và một vị Pháp sư. Mỗi vị đều có năm trăm đệ tử.
Một hôm, thầy Pháp sư quên không làm tròn phận sự trong lúc vệ sinh. Để có dịp tự đề cao mình, thầy Luật sư bèn đem khuyết điểm của thầy Pháp sư nói lại với đệ tử của mình. Các ông này đem chuyện thầy mình chỉ trích Pháp sư, nói cho đệ tử của thầy Pháp sư nghe. Các đệ tử của thầy Pháp sư bèn đem chuyện ấy nói lại với thầy của mình. Thế rồi hai bên có mặc cảm tội lỗi với nhau và tình đoàn kết cũng bị rạn nứt từ đó.
Một đốm lửa nhỏ cũng đủ thiêu cháy cả một lâu đài nếu không sớm dập tắt nó. Thật vậy, các vị sư vì quá nông nỗi không chịu sửa chữa những chỗ rạn nứt để cuối cùng tòa lâu đài đoàn kết bị sụp đổ. Các vị chia ra hai phe đối lập ra mặt, bất chấp phải trái và những khuyên can thành thật của mọi người.
Hay tin chẳng lành ấy, Đức Phật hai lần cho người đến khuyên dứt nhưng vô hiệu. Đến lượt thứ ba, khi người đưa tin chắc chắn là các vị hoàn toàn chia rẽ đến tai Phật. Phật không còn cách nào hơn, Đức Phật một mình một bóng ra đi ở tại cánh rừng Pàlileyyaka. Đức từ bi - Đức Phật đã cảm hóa được một con voi và một con khỉ sớm khuya chia nhau hầu Phật.
Voi thì chuyên lo giúp đỡ nước nóng nước lạnh, sớm khuya tuần hành ngăn ngừa thú dữ.
Khỉ thì lo hái trái ngon ngọt, mỗi con mỗi việc.
Hai bạn sống trong ánh từ quang của Phật.
Trong khi ấy, các vị sư nông nỗi, chuyên lo hơn thua bất chấp lời Phật, càng ngày càng làm tới, thậm chí đến các đại thí chủ trực tiếp cúng dường như ông bá hộ cấp Cô Độc, bà tỷ phú Visàkha, họ cũng bất kể.
Thấy sự kiện đi đến chỗ bế tàc, các hàng Phật tử ngoan đạo bèn hộp nhau tham khảo ý kiến, cuối cùng toàn thể đồng chấp thuận tạm ngưng cúng dường cho đến khi nào Đức Phật ngự trở về chùa như trước.
Kế hoạch này có hiệu lực. Các vị sư ngoan cố ấy khi quá đói thì không còn đủ sức để tranh chấp nữa. Không thể kéo dài sự đói khỗ lâu hơn, các vị ấy xin lỗi nhau và năn nỉ thiện tín bỏ lỗi cho
mình. Thiện tín khi biết các vị chưa xin lỗi Đức Phật, bèn đưa điều kiện tiên quyết là khi nào Đức Phật ngự về đến chùa thì họ cúng dường trở lại.
Không biết làm sao hơn, các vị cùng nhau đến năn nỉ Đại đức Ananda từ bi hướng dẫn đến sám hối với Phật và cung thỉnh Phật trở về chùa. Động lòng trắc ẩn, Đại đức Ananda hướng dẫn các vị đến cánh rừng Pàlileyyaka. Sau khi dặn dò các vị ở ngoài chờ tin, Ananda một mình vào ra mắt Phật. Đức Phật hỏi Ananda đến một mình hay còn ai nữa. Khi biết Ananda đến chung với năm trăm vị Tỳ-kheo hiện đang chờ đợi phía ngoài, Đức Phật dạy Ananda ra gọi các vị vào. Trong câu chuyện hàn huyên, các vị Tỳ-kheo tỏ ra vô cùng hối hận khi thấy Đức Phật ngự trong khu rừng có một mình. Biết rõ sự hối hận ấy, Đức Phật liền chỉ con voi Pàlileyyaka giải thích :
- Này các Tỳ-kheo ! Mọi việc đã có Pàlileyyaka giúp đỡ Như Lai. Nếu chúng ta được một người bạn chơn thành như Pàlileyyaka, thiết tưởng cũng nên sống chung, bằng ngược lại thì thà sống một mình còn hơn.
Để cho các vị Tỳ-kheo có một ý niệm sống chung, Đức Phật tiếp lời :
- Bậc tri thức nên hài lòng, sống chung với người bạn thông minh, hy sinh, dám đương đầu với mọi nguy hiểm, nhưng không nên sống chung với người bạn nào quá ngu dốt, thiếu đức hy sinh, lùi bước trước nguy hiểm. Sống một mình tốt hơn làm bạn với người ác, vì đời sống một mình tuy buồn nhưng không có tội.
Lãnh hội lý đạo. Năm trăm vị Tỳ-kheo đều chứng quả A-la-hán:
Nhờ Đại đức Ananda thuật lại sự mong mỏi của Phật tử, nhứt là ông bá hộ cấp Cô Độc, nên Đức Phật và chư vị Tỳ-kheo trở về chùa. Hay tin này, voi Pàlileyyaka vô cùng đau khổ vì quý mến Đức Phật nên nó cứ đi theo Đức Phật.
Khi sắp ra đến làng, Đức Phật dạy Pàlileyyaka ở lại, vì xóm làng không phải là nơi dung thân của nó. Nhưng vì quá thương kính, nó quỳ xuống đất đút vòi vào miệng, rống lên những tiếng kêu ai oán nghẹn ngào. Khi Đức Phật và chư Tăng đã đi xa khuất bóng thì nó nhào lăn ra chết tại chỗ và được sanh về nhàn cảnh.
Về chùa, Đức Phật liền triệu tập chúng khuyền răn : Này các thầy Tỳ-kheo ! Các thầy thật có lỗi- Như Lai còn sống đây mà khuyên dứt các thầy không nghe, trong khi các thầy là bậc xuất gia thì thử hỏi các thầy làm sao nêu gương cho tín đồ được. Các thầy đâu biết rằng, thuở xưa bậc hiền đức mặc dù trước cái chết vô cùng đau đớn và dã man của người cha vô tội, vẫn không dám trả thù chỉ vì lời trối của người trước khi nhắm mắt; để rồi nhờ đó sau này bậc hiền đức ấy được làm vua cai trị một lúc hai quốc gia, vì người thù đã cảm phục, nhận lỗi gả con gái của mình để chuộc cái lỗi tày trời chính mình đã gây ra chỉ vì lòng tham ích kỷ, óc thôn tính xâm lăng. Nói đến đây, Đức Phật đọc một bài kệ :
Pare ca na vijãnant
Mayametha Yamamase
Yeca tatha vijãnanti
Tato sammanti medhagã
Dịch :
Và người khác không biết
Chúng ta thấy bị hại
Chỗ ấy ai hiểu được
Tranh luận được lắng êm.
Phần đông vì không hiểu rằng : “Chúng ta sắp bị diệt vong vì sự sống chung chạ (nên họ cứ tranh giành cao thấp); chỉ có bậc trí thức mới giác ngộ được sự thật ấy, nên các ngài không còn tranh chấp hơn thua nữa”.
Lời bàn : Thói thường chúng ta sống chung nhau khó tránh khỏi sự đụng chạm, không vì lời nói thì cũng vì hành động, không việc riêng thì cũng việc chung. Nên nếp sống chung bao giờ cũng gặp nhiều trở ngại, nếu không khéo thì việc nhỏ đã chẳng thành mà việc lớn cũng bị đổ vỡ. Kinh nghiệm chúng ta thấy bất cứ trong tổ chức nào, đạo cũng như đời, nhỏ cũng như lớn, đối nội cũng như đối ngoại, thường lúc đầu chỉ là sự rạn nứt nho nhỏ rồi cuối cùng lạ sự sập đổ toàn diện. Cả những người mến đạo thiết tha nhưng một phút yếu lòng vì tự ái bị tổn thương hoặc danh dự bị chà đạp, thường trở mặt hành động chống đối nhau. Họ không còn phân biệt thiệt hơn lợi hại nữa, miễn sao lòng tự ái của họ được xoa dịu hoặc danh dự họ được đền bù xứng đáng. Thế. rồi từng hạt lẩn quẩn này chạy vòng trên chuỗi lẩn quẩn khác để đưa nhau đến sự bế tắc.
Tuy nhiên, bậc thức giả nhờ đạo hạnh cao siêu, thông minh diệu dụng nên các ngài không còn biết có người có mình, có cao có thấp mà chỉ thấy có chúng sanh. Nhờ đó mà các ngài không thiên vị, thương yêu oán ghét riêng tư, không còn thấy tự ái bị tổn thương, danh dự bị chà đạp. Nếu sự ngoan chấp ấy không còn thì tư duy tà kiến không có cơ hội phát triển.
Vậy nếu ai muốn tránh sự đụng chạm tranh chấp có thể đưa đến chỗ diệt vong thì bỏ bớt sự “chấp ta”, vì “cái ta” chứa đựng quá nhiều sự tham muốn đê hèn và oán thù nguy hại.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
04/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI TÁM - ĐAO LỢl
PHẨM THỨ BA MƯƠI TÁM - ĐAO LỢl PHẬT DẠY TÂN VƯƠNG BỔN PHẬN LÀM VUA Thuở xưa, có một nhà vua lấy Chánh pháp cai trị, lấy đức hóa dân, được dân ái mộ, nhưng vua không có con trai nên lo buồn sầu muộn. Một ngày kia, Phật đế...
04/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI BẢY - SANH TỬ
PHẨM THỨ BA MƯƠI BẢY - SANH TỬ QUẢ ĐẾN PHẢI TRẢ Xưa kia, lúc Phật ở tại Tinh xá Kỳ Hoàn, nước Xá-vệ, thuyết pháp cho người, trời, vua, quan nghe, thì cạnh đường cái có một ông Phạm Chí giàu có, tiền của không biết bao nh...
04/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI SÁU - NIẾT BÀN
PHẨM THỨ BA MƯƠI SÁU - NIẾT BÀN PHẬT DẠY NƯỚC NÀO CÓ BẢY ĐIỀU HAY NƯỚC KHÁC KHÔNG THỂ THẮNG ĐƯỢC Thuở nọ, lúc Phật ở núi Linh Thứu, gần thành Vương Xá với 1.250 Tỳ-kheo, nhà vua của nước Ma-kIệt-đà, hiệu là A-xà-thế đang...
04/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI LĂM - PHẠM CHÍ
PHẨM THỨ BA MƯƠI LĂM - PHẠM CHÍ CÁC PHÁP MÔN TU CỦA 96 PHÁI NGOẠI ĐẠO KHÔNG CÓ NIẾT BÀN Xưa ở nước Tư-a-diếp, có một cái núi lớn tên là Tư-hưu-giác-tha. Trong núi có năm trăm Phạm Chí; mỗi vị tu hành đạt đến thần thông....
04/02/2016
PHẨM BA MƯƠI BỐN - SA MÔN
PHẨM BA MƯƠI BỐN - SA MÔN PHẬT ĐỘ MỘT TỲ KHEO TRẺ TUỔI KHỎI VƯỚNG TÊN ĐỘC Xưa kia, lúc Phật ở Tinh xá nước Xá-vệ nói pháp cho thiên, long, quỷ, thần, nhà vua và nhân dân nghe thì có một Tỳ-kheo trẻ tuổi, sáng sớm đắp y,...
01/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI BA - LỢI DƯỠNG
PHẨM THỨ BA MƯƠI BA - LỢI DƯỠNG NGƯỜI DÙ ĐẸP BAO NHIÊU CŨNG KHÔNG BẰNG NGƯỜI CÓ ĐẠO ĐỨC Xưa kia, Phật dẫn các đệ tử đến Tinh xá Mỹ Âm, nước Câu-đàm-di, dể thuyết pháp cho trời, người và thần, long nghe. Lúc bấy giờ là tr...
01/02/2016
QUYỂN THỨ TƯ PHẨM THỨ BA MƯƠI HAI - ÁI DỤC (tiếp theo)
QUYỂN THỨ TƯ PHẨM THỨ BA MƯƠI HAI ÁI DỤC (tiếp theo) 3- PHẬT DÙNG THẦN THÔNG ĐỘ ÔNG TRƯỞNG GIẢ NHỚ LẠI TIỀN KIẾP Xưa kia, lúc Phật ở nước Xá-vệ nói pháp cho trời, người nghe. Trong thành có một người Bà-la-môn sang cả, t...
01/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI HAI - ÁI DỤC
PHẨM THỨ BA MƯƠI HAI - ÁI DỤC 1- PHẬT DÙNG PHƯƠNG TIỆN ĐỘ MỘT VỊ SA MÔN THỐI CHÍ Lúc Phật ở tại Tinh xá Kỳ-xà-quật, nước La-duyệt-kỳ, giảng đại pháp cho trời, người, rồng, quỷ nghe, có người bỏ cả nhà cửa, vợ con đến nơi...
