KPCTD PHẨM THỨ BA - ĐA VĂN
25/01/2016
PHẨM THỨ BA ĐA VĂN 1- CON DAO TRONG TÂM Thuở xưa, tại nước Xá-vệ, có một gia đình nghèo, vợ chồng đều là người ác độc, không tin đạo đức. Xót thương nỗi ngu si của họ, Phật hiện làm một thầy Sa-môn nghèo đến đứng trước c...

PHẨM THỨ BA ĐA VĂN
1- CON DAO TRONG TÂM
Chạy đến một gốc cây cách nhà mấy dặm, người đàn bà mệt quá, dừng chân ngồi nghỉ. Một chặp sau, người chồng trên đường về nhà, gặp vợ còn đang run rẩy sợ sệt, ông hỏi nguyên do, bà đem chuyện kinh hoàng ra kể lại. Ông chồng nổi giận đùng đùng hỏi : - Nó ở đâu bây giờ ? - Đã đi rồi nhưng tưởng chưa xa.
Anh bèn xách cung vác đao chạy đi tìm và khi thấy ông thầy liền trương cung rút đao quyết tâm giết chết. Sa-môn bèn hóa ra cái thành nhỏ bằng ngọc lưu ly trong suốt và tự giam mình vào đó. Chàng kia chạy quanh quẩn ba vòng kiếm cửa vô mà chẳng thấy, anh ta thét :
- Sao không mở cửa ? - Ông muốn mở cửa, xin bỏ cung đao. Chàng kia thầm nghĩ : “Thì mình cứ theo lời gã, khi vào thành rồi, mình dùng tay mà đánh gã cũng chết”. Nghĩ xong, anh ta quăng cung đao, nhưng cửa thành vẫn không mở. - Này đạo nhơn, ta đã ném cung đao, sao cửa thành chẳng mở ? - Ý tôi muốn ông bỏ cung đao nơi tâm, chẳng phải bỏ cung đao của hai tay. Nghe nói, chàng ta kinh hãi : “Chết ! Đạo nhơn quả thật Thần Thánh mới biết lòng ta!" Chàng ta bèn lật đật quỳ xuống cúi đầu hối tội : - Vợ tôi tối tăm, không-biết tiên trưởng, làm cho tôi sanh tâm ác, xin ngài dũ lòng thương xót, đừng bỏ chúng tôi, tôi khuyên vợ tôi cùng tôi tu hành đạo đức. Bạch xong, chàng ta đứng dậy và thỉnh đạo nhơn trở lại nhà. Ông chồng thuật cho vợ nghe thần thông biến hóa của đạo nhơn, rồi cả hai dập đầu hối tội xin làm đệ tử. Lễ xong, ông chồng bạch hỏi : - Bạch Thầy ! Thầy quả là cao siêu, biến hóa phi thường, có thành lưu ly dày chắc khó nỗi đạp bằng, lại thêm chí sáng ý định, vĩnh viễn thoát khỏi ưu sầu. Chẳng hay Thầy đã theo con đường đạo đức nào mà đạt đến thần diệu ấy ? Sa-môn đáp : - Ta nhờ chỗ pháp học không lười, phụng pháp không biếng, trì giới tinh tấn, tâm trí chẳng buông lung nên đèn huệ sáng chiếu, nhờ đó mà đắc đạo tự mình vào Niết-bàn. Nói xong, Sa-môn đọc bài kệ :
Đa văn nâng trì cố
Phụng pháp vỉ viên tường
Tinh tấn nan du hủy
Tùng thị giới huệ thành.
Đa văn linh trí minh
Dĩ minh trí huệ tăng
Trí tắc bác giải nghĩa
Kiến nghĩa hành pháp an.
Đa văn năng trừ ưu
Năng dĩ định vi hoan
Thiện thuyết cam lộ pháp
Tự trí đắc Niết-bàn.
Văn vi tri pháp luật
Giải nghi diệc kiến chánh
Tùng văn xả phi pháp
Hành đáo bất tử xứ. Học rộng nay nắm chặt
Vâng pháp như tường cao
Tinh tấn khó đối phá
Nhờ vậy giới huệ đầy.
Học nhiều trí sáng suốt
Chí sáng trí huệ thêm
Trí có, hiểu tất cả
Hiểu nghĩa hành pháp xuôi.
Học rộng dứt lo buồn
Định được vui vẻ đến
Khéo nói cam lộ pháp
Tự mình chứng Niết-bàn
Có học mới biết pháp
Hết nghi thêm thấy chánh
Nhờ học bỏ tà đạo
Thẳng đến nơi bất tử
Sa-môn nói kệ xong, hiện ra hào quang của Phật, ánh sáng chiếu đất trời. Hai vợ chồng kẻ kia hết sức kinh ngạc, dập đầu xuống đất, tâm ác rửa sạch, bao nhiêu tội chướng mấy kiếp đều tiêu trừ, liền đắc quả Tu-đà-hoàn.
2- PHẠM CHÍ CẦM ĐUỐC
Hôm nọ, Đức Phật ở nơi Tinh xá Mỹ Âm tại nước Câu-diệm-di. Trong giờ diễn giảng cho tứ chúng, có một Phạm Chí là người rất giỏi về biện luận, sẵn có tánh tự cao, từ lâu chưa có ai dám biện luận với ông. Một hôm, giữa ban ngày ông thắp đuốc đi nghinh ngang cùng chợ, có người trông thấy việc lạ như thế nên hỏi : “Vì sao ông Cầm đuốc đi giữa ban ngày ?”. Phạm Chí đáp : - Cả đời đều ngu tối, tôi phải cầm đuốc mà soi cho, khắp trong thế gian không có ai dám biện luận cùng tôi cả. •Phật biết Phạm Chí ấy có túc phước có thể độ được, nhưng ông chỉ cố tánh cống cao muốn cầu hơn, háo thắng lấy tiếng, không kể vô thường, tự kiêu như thế, sẽ đọa vào địa ngục Thái Sơn không kể số kiếp, khó có ngày ra. Phật giả làm một người hiền ngồi trong chợ hỏi : “Phạm Chí ! ông làm gì đó ?”, Phạm Chí đáp :Người hiền lại hỏi : - Phạm Chí ! Trong Kinh có nói về bốn pháp minh ông có biết chăng ? Phạm Chí đáp : - Không biết !
Tự đại dĩ kiêu nhơn
Thị như manh chấp chúc
Chiếu bỉ bất tự minh. Nếu hiểu được ít nhiều
Tự đại hay tự kiêu
Như người mù cầm đuốc
Sáng người mình không sáng Phật nói kệ xong, bảo Phạm Chí : “Trong đời không ai ngu hơn ông ! Ban ngày mà cầm đuốc đi vào nước lớn, sự hiểu biết của ông cũng như hạt cát”. Phạm Chí nghe xong tỏ vẻ hổ thẹn, liền cúi đầu nguyện làm đệ tử, Phật nhận cho vào hàng Sa-môn, ý chí tỏ ngộ dứt vọng chứng được đạo.
3- TU ĐẠT KHUYÊN BẠN THỈNH PHẬT
Xưa kia, ở nước Xá-vệ, có một nhà giàu sang tên là Tu Đạt, đã đắc quả Tu-đà-hoàn. Ông có một bạn thân, cũng Trưởng giả như ông, tên là Hiếu Thi, vốn người không tin Đạo Phật và các khoa y thuật. Có một lúc Hiếu Thi đau nặng, bại xụi nằm liệt, bà con bạn bè kéo nhau đến thăm, ai cũng khuyên ông lo trị bệnh, không thì chết mất.Ông đáp : - Tôi thờ nhựt nguyệt, trung hiếu với vua với cha, trọn đời có bao nhiêu đó đến chết không đổi chí. Tu Đạt nói : - Thầy tôi đang thờ hiệu là Phật, đầy đủ oai thần đức tướng, ai trông thấy Ngài, được nhiều phước lớn, đâu thỉnh Phật đến nói Kinh chú nguyện. Bạn được nghe lời Phật thì trong chỗ nói làm ắt có phần tiến bộ, ngoài ra, muôn thờ Ngài hay không điều đó tùy ý bạn. Nay bạn đau ốm đã lâu chẳng phải lúc nói trái nói phải, tôi xin bạn nghe tôi thỉnh Phật đến, may ra nhờ phước Ngài mà lành mạnh. Hiếu Thi để qua một ngày mới bằng lòng cho Tu Đạt đi thỉnh Phật và các đệ tử. Vừa đến cửa Hiếu Thi, Phật phóng ánh sáng làm cho trong ngoài trong suốt. Thấy hào quang, Trưởng giả vui mừng, thân thể nhẹ nhõm. Phật vào nhà ngồi, bắt đầu hỏi thăm gia chủ đau bệnh gì, trước kia đã thờ thần nào và đã dùng phương pháp nào trị liệu ? Hiếu Thi bạch :kính trai giới cúng kiến đủ điều, nhưng từ phát bệnh đến nay cũng khá lâu, tôi chưa thấy ơn trên che chở. Còn thuốc men châm cứu thì nhà tôi rất kỵ cho nên không dùng đến.
- Người sanh ở đời có ba thứ chết oan : Có bệnh mà không trị là một, trị mà không cẩn thận là hai, kiêu ngạo ngu si ỷ sức mình mà không biết ngược xuôi phải trái là ba. Bệnh của Ông đây không phải thần mặt trời, mặt trăng, cũng không phải trời đất, ông bà, vua chúa, cha mẹ trị được, phải rõ biết đường lốì và tùy thời mới cứu khỏi. Thứ nhứt thân xác tứ đại của ông bị lạnh nóng bức bách thì phải dùng thuốc; thứ hai bị chúng tà ác quỷ nên dùng giới luật mà trị; thứ ba phụng thờ Hiền Thánh là phương cứu tế khi cùng nguy, vì oai đức của thần linh có khả năng che chở cứu hộ quần sanh, rốt hết là dùng đại trí huệ tiêu khử vô minh do năm uẩn tích tụ. Phụng hành đúng như vậy thì hiện thế an lành, chung cuộc tránh được nạn chết oan. Giới huệ thanh tịnh giữ đủ ba môn ấy thì đời đời thường an. Liền theo đó Phật nói bài kệ :
Sự nhựt vi minh cố
Sự phụ vi ân cố
Sự quân di lực cố
Văn cố sự đạo nhơn.
Nhơn vị mạng sự y
Dục thắng y hào cường
Pháp tại trí huệ xứ
Phước hành thế thế minh.
Sát hữu tại vi vụ
Biệt bạn tại cấp thời
Quan thê tại phòng lạc
Dục tri tri tại thuyết.
Vi năng sư kiến đạo
Giải nghi linh học minh
Diệc dữ thanh tịnh bổn
Nâng phụng trì pháp tạng.
Văn năng kim thế lợi
Thê tử côn đệ hữu
Diệc tri hâu thế phước
Tích văn thành Thánh trí.
Nâng nhiếp vi giải nghĩa
Giải tắc giới bất khuy
Thọ pháp ỷ pháp giả
Tùng thị tật đắc an.
Thị năng tán ưu nhuế
Diệt trừ bất tường suy
Dục đắc an ổn kiết
Đương sự đa văn giả.
Dịch :
Thờ mặt trời vì cầu sáng
Thờ cha mẹ vì ơn sâu
Thờ vua chúa vì lấy sức
Muốn học thông thờ đạo nhơn.
Vì mạng sống thờ thầy thuốc
Muốn hơn tài cao thể mạnh
Pháp tại nơi trí huệ to
Làm phước đời đời sáng suốt,
Xét bạn lại xét việc làm
Tốt xấu, biết khi gấp rút
Ngắm vợ ngắm tại phòng riêng
Muốn biết trí, tại lời nói.
Làm thầy phải người thấy đạo
Giải nghi làm sáng học trò
Thêm giữ vẹn thanh tịnh tánh
Lại năng huân nhớ pháp mầu.
Học đạo đời này lợi ích
Anh em con vợ hướng đồng
Lại đời sau lưu lắm phước
Học nhớ nhiều, trí Thánh thành.
Nhiếp hóa người nhờ giải nghĩa
Giữ thông giới được vẹn tròn
Lãnh pháp là sống theọ pháp
Nhờ vậy mà bệnh được an.
Lo sầu nóng giận tiêu tan
Lại trừ những việc gian nan bất tường
Hỡi ai muốn sống an tường
Nên nhờ những bậc rộng đường kiến văn. Trưởng giả nghe Phật thuyết pháp, bao nhiêu nghi ngờ tích tụ đều tan mất như đám mây, bốn. đại (thân thể) an tĩnh, các hoạn tiêu trừ, như được uống cam lộ, trong ngoài hòa vui, thân tâm an định, được quả Tu-đà-hoàn, trong và ngoài nước không ai chẳng kính mến.
4- PHẬT HÀNG PHỤC BỌN CƯỚP
Thuở xưa, tại phía Nam nước La-duyệt-kỳ có một ngọn núi lớn cách thành 200 dặm. Các con đường giao thông trong nước ở vùng hướng Nam đều phải đi ngang qua núi ấy. Một bọn cướp đông 500 đứa nương vào thế núi hiểm trở, lập sào huyệt ở đó và cướp giật khách đi đường lâu ngày, bọn chúng tung hoành như một bầy sói dữ, số khách thương bị chúng làm hại mỗi ngày tăng lên, riết rồi không còn ai dám lai vãng quanh vùng. Nhà vua mấy phen cho quan quân đi dẹp mà không tóm cổ bọn chúng được. Lúc ây, Phật ở tại nước La-duyệt-kỳ, vì thương xót quần sanh, Ngài nghĩ : “Bọn cướp này chẳng biết tội phước gì cả, gặp đời có Phật mà mắt chẳng thấy, tiếng trống pháp ngày ngày vang dội mà tai chẳng nghe, nếu không đến độ chúng thì chúng sẽ như đá nặng chìm khe sâu”. Nghĩ xong, Phật bèn hóa làm người quần áo rất là sang trọng, mình ngồi tuấn mã, hông đeo gươm báu, tay cầm cung tên, yên lạc đều bằng vàng bạc nhắm núi đi tới. Bọn cưđp nhìn thấy cho là gặp gió to, khách lại có một người một ngựa, thì dầu có chiến, vẫn là một trận trứng chọi đá. Chúng giương cung múa đao tranh nhau giết đoạt. Người do Phật hóa đưa cung lên bắn ra một phát, đứa nào cũng lãnh một mũi, vung đao một loạt, cậu nào cũng bị thương. Bị tên thương sâu nặng, tất cả đều té lăn dưới đất, chúng cúi đầu quy hàng và kêu van :-Lạy Ngài, Ngài là thần ở đâu mà oai lực mạnh mẽ như thế, xin Ngài tha mạng cho chúng tói, nhố tên lành vết , chúng tôi đau nhúc quá chịu không nối.
Hóa nhơn đáp :
- Tên đâm, đao chém có gì là đau, thiên hạ không có vết thương nào nặng bằng ưu phiền, không bị sự tàn hại nặng nề nào bằng ngu ám, các ngươi ôm ấp ưu tư mê muội của lòng tham đoạt, thì đao thương độc tiền làm sao tránh khỏi. Hai thứ độc ây nơi các ngươi như cây rễ ăn sâu, dầu người sức mạnh đến đâu cũng không tài náo nhổ được. Chỉ có lấy kinh giới đa văn huệ nghĩa làm đuốc soi đường thì mới mong trị lành hai tâm bệnh ưu phiền và ngu muội, mới chế ngự được tánh cang cường, hào phú, tham dục, tiến tới việc tích đức học huệ để thu hoạch được sự an ốn.
Nói xong, Hóa nhơn hiện thân Phật, tướng tốt ánh vàng, nối bài kệ như sau :
Chước thương vô quả ưu
Xạ tiền vô quá ngu
Thị tráng mạc năng bạt
Duy tùng đa văn trừ.
Manh giả tùng đắc nhân
Am giả tùng đắc chúc
Thị đạo thế gian nhơn
Như mục tương vô mục.
Thị cố khả xả si
Ly mạn hào phú lạc
Vụ học sự văn giả
Thị danh tích tụ đức. Đao chém đâu bằng lo nghĩ
Tên đâm sao ví ngu si
Cậy sức không nhổ được
Chỉ học mới trừ xong
Mù học mắt trở lại
Tối nghe ánh sáng về
Học dẫn đường thế tục
Như sáng dẫn kẻ mù.
Vì vậy khá bỏ si
Phách lối, vui vật chất
Cố công theo học hỏi
Ấy là gom góp đức.
Bọn cướp thấy tướng sáng của Phật lại nghe bài kệ, bèn cúi đầu vâng lời Phật dạy, khắc tâm hối lỗi, đao thương độc tiễn tự nhiên hết, vui vẻ trí khai thọ lãnh năm giới.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
04/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI CHÍN - KIẾT TƯỜNG
PHẨM THỨ BA MƯƠI CHÍN - KIẾT TƯỜNG PHẬT NÓI ĐIỀM AN LÀNH RỐT RÁO Thuở xưa, Phật ở nước La Duyệt, trong núi Kỳ-xà-quật, vì các loài trời, người, rồng và ma thuyết pháp ba thừa. Lúc bấy giờ, tại phía Nam núi vừa nói, trên...
04/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI TÁM - ĐAO LỢl
PHẨM THỨ BA MƯƠI TÁM - ĐAO LỢl PHẬT DẠY TÂN VƯƠNG BỔN PHẬN LÀM VUA Thuở xưa, có một nhà vua lấy Chánh pháp cai trị, lấy đức hóa dân, được dân ái mộ, nhưng vua không có con trai nên lo buồn sầu muộn. Một ngày kia, Phật đế...
04/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI BẢY - SANH TỬ
PHẨM THỨ BA MƯƠI BẢY - SANH TỬ QUẢ ĐẾN PHẢI TRẢ Xưa kia, lúc Phật ở tại Tinh xá Kỳ Hoàn, nước Xá-vệ, thuyết pháp cho người, trời, vua, quan nghe, thì cạnh đường cái có một ông Phạm Chí giàu có, tiền của không biết bao nh...
04/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI SÁU - NIẾT BÀN
PHẨM THỨ BA MƯƠI SÁU - NIẾT BÀN PHẬT DẠY NƯỚC NÀO CÓ BẢY ĐIỀU HAY NƯỚC KHÁC KHÔNG THỂ THẮNG ĐƯỢC Thuở nọ, lúc Phật ở núi Linh Thứu, gần thành Vương Xá với 1.250 Tỳ-kheo, nhà vua của nước Ma-kIệt-đà, hiệu là A-xà-thế đang...
04/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI LĂM - PHẠM CHÍ
PHẨM THỨ BA MƯƠI LĂM - PHẠM CHÍ CÁC PHÁP MÔN TU CỦA 96 PHÁI NGOẠI ĐẠO KHÔNG CÓ NIẾT BÀN Xưa ở nước Tư-a-diếp, có một cái núi lớn tên là Tư-hưu-giác-tha. Trong núi có năm trăm Phạm Chí; mỗi vị tu hành đạt đến thần thông....
04/02/2016
PHẨM BA MƯƠI BỐN - SA MÔN
PHẨM BA MƯƠI BỐN - SA MÔN PHẬT ĐỘ MỘT TỲ KHEO TRẺ TUỔI KHỎI VƯỚNG TÊN ĐỘC Xưa kia, lúc Phật ở Tinh xá nước Xá-vệ nói pháp cho thiên, long, quỷ, thần, nhà vua và nhân dân nghe thì có một Tỳ-kheo trẻ tuổi, sáng sớm đắp y,...
01/02/2016
PHẨM THỨ BA MƯƠI BA - LỢI DƯỠNG
PHẨM THỨ BA MƯƠI BA - LỢI DƯỠNG NGƯỜI DÙ ĐẸP BAO NHIÊU CŨNG KHÔNG BẰNG NGƯỜI CÓ ĐẠO ĐỨC Xưa kia, Phật dẫn các đệ tử đến Tinh xá Mỹ Âm, nước Câu-đàm-di, dể thuyết pháp cho trời, người và thần, long nghe. Lúc bấy giờ là tr...
01/02/2016
QUYỂN THỨ TƯ PHẨM THỨ BA MƯƠI HAI - ÁI DỤC (tiếp theo)
QUYỂN THỨ TƯ PHẨM THỨ BA MƯƠI HAI ÁI DỤC (tiếp theo) 3- PHẬT DÙNG THẦN THÔNG ĐỘ ÔNG TRƯỞNG GIẢ NHỚ LẠI TIỀN KIẾP Xưa kia, lúc Phật ở nước Xá-vệ nói pháp cho trời, người nghe. Trong thành có một người Bà-la-môn sang cả, t...
