Phẩm thứ nhất - TỰ THUẬT
02/03/2016
Phẩm thứ nhất - TỰ THUẬT Khi ấy, Đại sư đến chùa Bảo Lâm. Vi thứ sử Thiều Châu cùng các quan vào núi thỉnh Sư ra giảng đường chùa Đại Phạm, vì chúng khai duyên thuyết pháp. Tổ thăng tòa. Thứ sử quan liêu hơn ba mươi ngườ...

Phẩm thứ nhất - TỰ THUẬT
Khi ấy, Đại sư đến chùa Bảo Lâm. Vi thứ sử Thiều Châu cùng các quan vào núi thỉnh Sư ra giảng đường chùa Đại Phạm, vì chúng khai duyên thuyết pháp.Tổ thăng tòa. Thứ sử quan liêu hơn ba mươi người, nhà nho học sĩ hơn ba mươi người, Tăng Ni đạo tục hơn ngàn người, cùng đảnh lễ ngưỡng cầu Pháp yếu.
Tổ bảo đại chúng:
Này thiện tri thức! Tự tánh Bồ-đề xưa nay thanh tịnh, chỉ y tâm này ngay đây thành Phật.
Thiện tri thức! Hãy nghe chuyện Huệ Năng đắc pháp. Huệ Năng cha vốn làm quan ở Phạm Dương, bị cách chức lưu đày đến xứ Lãnh Nam làm thường dân ở Tân Châu. Huệ Năng ra đời gặp nhiều bất hạnh, cha mất sớm, mẹ già cô quạnh, dời nhà qua phương Nam, bán củi đổi gạo ở chợ, gian nan nghèo khó. Bấy giờ, có một khách mua củi sai gánh đến nhà. Huệ Năng giao củi xong, vừa ra khỏi cửa, nghe một người tụng kinh, tâm liền rõ đạo, bèn hỏi người ấy tụng kinh gì. Người kia nói: Kinh Kim Cang.
Lại hỏi: Từ chỗ nào đến trì Kinh này?
Người kia nói: Tôi từ chùa Đông Thiền huyện Hoàng Mai, Kỳ Châu đến. Nơi ấy Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Đại sư làm hóa chủ, chúng đệ tử hơn ngàn người. Tôi đã đến đó lễ bái thọ trì Kinh này. Đại Sư thường khuyến dạy Tăng tục: “Chỉ y Kinh Kim Cang tức tự thấy tánh, y tánh này thành Phật”.
Huệ Năng nghe nói, biết có duyên xưa. Bỗng một người khách cho Huệ Năng mười lạng bạc để mua y thực cho mẹ. Rồi từ biệt mẹ già, trải qua hơn ba mươi ngày đường đến Hoàng Mai tham bái Ngũ Tổ.
Tổ hỏi: Ngươi là người phương nào, đến đây cầu vật gì?
Huệ Năng đáp: Con là thường dân ở Lãnh Nam, Tân Châu. Từ xa đến lễ bái Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu vật khác.
Tổ nói: Ngươi là người Lãnh Nam, là dân mọi rợ lại muốn làm Phật ư?
Huệ Năng đáp: Người tuy có Nam Bắc, Phật tánh vốn không Nam Bắc. Thân hèn này cùng Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh nào sai khác.
Ngứ Tổ muốn cùng Ta nói chuyện, lại thấy đồ chúng vây quanh, bèn sai Ta theo chúng làm việc.
Huệ Năng thưa: Tự tâm đệ tử hằng sanh trí huệ, chẳng lìa tự tánh tức phước điền. Chẳng hay Hòa Thượng dạy làm việc gì?
Tổ bảo: Gã rợ kia căn tánh thông lợi, chớ lắm lời, ngươi hãy lui ra nhà sau.
Huệ Năng liền lui ra sau viện, có người sai bửa củi giã gạo hơn tám tháng.
Một hôm, Tổ đến nhà sau nói với Huệ Năng: Ta biết chỗ thấy của ngươi có thể dùng, sợ kẻ ác hại nên chẳng cùng nói chuyện. Ngươi có biết không?
Huệ Năng thưa: Đệ tử cũng biết ý Thầy, không dám đi đến nhà trước để chẳng aỉ hay.
Một hôm, Tổ gọi các đệ tử đến bảo rằng:
- Người đời sanh tử là việc lớn, các ngươi trọn ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu ra khỏi biển khổ sanh tử. Tự tánh nếu mê, phước nào khá cầu? Các ngươi hãy mau tự xem trí huệ của mình không lìa bổn tâm chơn tánh Bát Nhã, làm kệ trình Ta xem. Nếu ai ngộ được bổn tâm, Ta sẽ truyền y bát làm Tổ thứ sáu. Hãy gấp gấp đi, không được chậm trễ. Suy lường tức chẳng phải cái dụng của người thấy tánh, nhơn đây tỏ đạo thì vung đao giữa trận cũng thấy được!
Tan hội, chúng cùng nhau bàn rằng: Bọn ta nhọc tâm dụng ý làm kệ trình Hòa thượng đâu có ích gì? Thượng tọa Thần Tú là thầy Giáo thọ, ắt Ngài được truyền y bát, chúng ta chẳng nên nhọc sức.
Mọi người nghe vậy đều hớn hở vui mừng: Từ nay về sau chúng ta y chỉ thầy Tứ, khỏi nhọc làm kệ.
Thần Tú suy nghĩ: Mọi người chẳng trình kệ vì ta là thầy Giáo thọ của họ, nên đợi ta làm. Nếu ta chẳng trình kệ, Hòa thượng làm sao biết chỗ thấy của ta cạn sâu thế nào? Ta hiểu làm kệ cầu pháp là lành, cầu Tổ là ác, có khác gì đem tâm phàm mà cầu Thánh vị.
Trước nhà Tổ có hành lang ba gian, Tổ mời Lư Cung Phụng họa bức Lăng Già Biến Tướng và Ngũ Tổ Huyết Mạch Đồ để lưu truyền cúng dường.
Thần Tú làm kệ xong, nhiều lần muốn trình, đi đến trước nhà Tổ, trong lòng hốt hoảng, thân đẫm mồ hôi. Trước sau trảỉ qua bốn ngày, mười ba lần muốn trình kệ mà chẳng được. Thần Tú suy nghĩ: Nay ta cứ viết nơi vách hành lang, Hòa thượng sẽ xem. Nếu Tổ khen tốt, thời ta lễ Hòa Thượng rằng Tú con làm. Nếu đạo chẳng kham, thời uổng công ta ở núi bấy lâu nhận người lễ lạy, chẳng biết tu đạo gì?
Canh ba đêm ấy, không cho ai hay, tự cầm đèn đến hành lang hướng Nam, viết kệ trình chỗ thấy của mình. Kệ rằng:
Thân là cây Bồ-đề
Tâm như đài gương sáng
Mỗi mỗi chuyên lau chùi
Chớ để bụi trần bám.
Thần Tú viết kệ xong về phòng, không một ai biết. Lại suy nghĩ: Nếu sáng ra Tổ thấy kệ vui vẻ, tức ta có duyên với pháp. Nếu nói chẳng được, tức là ta mê, chướng nghiệp nhiều đời sâu nặng, không hợp được pháp. Thánh ý thật khó lường!
Trong lòng suy nghĩ không thôi, đứng ngồi chẳng yên cho tới canh năm.
(Tổ biết Thần Tú chưa vào cửa, chẳng thấy tự tánh),
Sáng ngày, Tổ gọi Lư Cung Phụng đến bức tường phía Nam, chợt thấy bài kệ. Tổ bảo: Thôi, không họa nữa, nhọc ông từ xa đến. Kinh dạy “Phàm có tướng đều là hư vọng”, chỉ lưu kệ này cho người trì tụng. Y kệ đây tu không đọa ác đạo, y kệ đây tu được lợi ích lớn.
Tổ sai chúng đệ tử đốt hương kính lễ, dốc lòng trì tụng kệ này tức được thấy tánh. Chúng đệ tử tụng kệ thảy đều tán thán: Lành thay! Lành thay!
Canh ba, Tổ gọi Thần Tú vào thất hỏi: Kệ này ông làm phải không?
Thẩn Tú thưa: Thật con làm. Con chẳng dám vọng cầu làm Tổ, ngưỡng mong Hòa Thượng từ bi xem đệ tử có chút trí huệ nào không?
Tổ bảo: Kệ của ngươi chưa thấy tánh, chỉ ở ngoài chưa vào cửa. Kiến giải như thế cầu Vô thượng Bồ-đề không thể được. Vô thượng Bồ-đề chẳng ở lời được. Tự biết bổn tâm, tự thấy bổn tánh, trong tất cả thời không sanh không diệt, niệm niệm tự thấy, vạn pháp không trệ. Một chơn tất cả chơn, vạn cảnh tự như như, tâm như như tức là chơn thật. Nếu thấy như thế tức là thấy tự tánh Vô thượng Bồ-đề. Ngươi hãy đi, tư duy một vài hôm làm kệ trình Ta. Nếu kệ ngươi được vào cửa, Ta sẽ trao y bát cho ngươi.
Thần Tú lễ lạy mà lui. Trải qua mấy hôm làm kệ chẳng được, trong lòng hoảng hốt, thần trí chẳng yên, như người trong mộng, đứng ngồi bất an.
Hai hôm sau, một chú tiểu đến chỗ giã gạo, miệng ê a đọc kệ. Tuy chưa được Tổ dạy, nhưng Huệ Năng thoạt nghe, biết kệ này chưa thấy bổn tánh, bèn hỏi chú tiểu tụng kệ gì.
Chú tiểu đáp: Ấy, ông chẳng biết sao? Đại Sư nói người đời sanh tử là việc lớn, muốn truyền lại y bát khiến đệ tử làm kệ trình, nếu ai ngộ bổn tâm thời trao y bát làm Tổ thứ Sáu. Thượng tọa Thần Tú viết kệ vô tường trên bức tường phía Nam. Đại Sư dạy mọi người đều trì tụng: “Y kệ đây tu thoát khỏi ác đạo, y kệ đây tu có lợi ích lớn”.
Huệ Năng nói: Thượng nhơn, tôi ở đây giã gạo hơn tám tháng chưa từng đến trước Tổ đường, xin thượng nhơn dẫn tôi đến trước kệ lễ bái.
Chú tiểu dẫn đến trước bài kệ. Lễ bái xong, Huệ Năng nói: Huệ Năng chẳng biết chữ, thỉnh thượng nhơn đọc giúp.
Lúc ấy có quan Biệt giá Giang Châu là Trương Nhật Dụng lớn tiếng đọc. Huệ Năng nghe rồi nói: Tôi cũng có bài kệ, xin Biệt giá viết hộ.
Biệt giá nói: Ông cũng làm kệ à? Việc này thật hy hữu.
Huệ Nâng hướng về Biệt giá nói: Muốn học Vô thượng Bồ-đề chớ khinh người sơ học. Kẻ hạ hạ có trí thượng thượng, người thượng thượng trí ý cạn.
Biệt giá nói: Ông hãy đọc kệ, tôi vì ông viết. Nếu ông đắc pháp hãy độ tôi trước, chớ quên lời này.
Huệ Năng đọc kệ:
Bồ-đề vốn không cây
Gương sáng không lập sáng
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính bụi trần.
Kệ viết xong, đồ chúng kinh hãi, đồng bảo nhau: Lạ thay! Lạ thay! Chẳng thể lấy dáng mạo mà đoán người, đâu biết bấy lâu nay ta sai khiến nhục thân Bồ-tát.
Tổ thấy mọi người kinh quái, sợ có người hại, liền lấy giày xóa, nói kệ này cũng chưa thấy tánh. Chúng cũng tin là vậy.
Hôm sau, Tổ xuống thấy Huệ Năng lưng đeo đá giã gạo, bèn nói: Người cầu đạo phải quên thân như vậy.
Lại hỏi: Gạo trắng chưa?
Huệ Năng thưa: Gạo trắng từ lâu, còn thiếu dần sàng.
Tổ dùng gậy đánh vào cối ba cái, bỏ đi.
Huệ Năng liền hội ý Tổ, Canh ba đêm ấy vào thất, Tổ lấy y Ca-sa che kín không để người thấy, thuyết Kinh Kim Cang đến câu “Bổn tâm vô trụ, diệu ứng vô cùng”, Huệ Năng đại ngộ tất cả vạn pháp chẳng lìa tự tánh. Bèn nói:
Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh
Nào ngờ tự tánh vốn không sanh diệt
Nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ
Nào ngờ tự tánh vốn không động lay
Nào ngờ tự tánh năng sanh vạn pháp,
Tổ biết Huệ Năng đã ngộ bổn tánh, nói: Không biết bổn tâm, học pháp vô ích. Rõ được bổn tâm, thấy được bổn tánh tức là Đấng Trượng Phu, là Thiên Nhơn sư, là Phật.
Canh ba thọ pháp, Tổ truyền Đốn giáo và y bát, không một ai hay. Tổ bảo: Ông là Tổ đời thứ Sáu, khéo tự hộ niệm, rộng độ hữu tình, lưu truyền ở đời chớ để dứt mạch. Hãy nghe kệ Ta:
Có tình ắt có giống
Nhơn đất quả bèn sanh,
Không tình cũng không giống
Không tánh cũng không sanh.
Tổ lại nói: Xưa Đại sư Đạt Ma mới đến nước này, người chưa đủ niềm tin nên truyền y đây để làm tín vật. Đời đời truyền thừa khuôn phép, lấy tâm truyền tâm, đều khiến tự ngộ, tự giải. Từ xưa Phật Phật duy truyền bổn tánh, Tổ Tổ tánh tánh mật truyền. Y là đầu mối của sự tranh giành, đến ông chớ truyền. Nếu truyền y đây, mạng sống như chỉ mành treo chuông. Ông hãy đi đi, sợ có kẻ ác hại ông.
Huệ Năng thưa: Đi về hướng nào?
Tổ nói: Gặp Hoài thì dừng, gặp Hội thì ẩn.
Canh ba nhận được y bát, Ngũ Tổ đưa đến bến Cửu Giang. Thầy trò lên thuyền, Huệ Năng cầm chèo.
Ngũ Tổ nói: Đáng lẽ Ta phải độ ngươi.
Huệ Năng nói: Khi mê Thầy độ, ngộ rồi tự độ (chữ “độ” tuy có một, chỗ dùng chẳng đồng). Huệ Năng sanh ở biên địa, tiếng nói trọ trẹ, nhờ ơn Thầy truyền pháp nay đã được ngộ, chỉ hợp tự tánh tự độ.
Tổ bảo: Đúng vậy! Đúng vậy! Phật pháp về sau do ông mà thịnh hành. Ông hãy gắng sức theo hướng Nam đi gấp, chớ vội thuyết pháp, e Phật pháp có nạn.
Huệ Năng từ tạ Tổ theo hướng Nam mà đi, ròng rã hai con trăng đến núi Đại Cửu.
Ngũ Tổ về, mấy hôm chẳng thượng đường. Chúng nghi, đến hỏi: Hòa Thượng có bệnh chăng?
Tổ bảo: Bệnh thì không, y bát đã về Nam.
Chúng hỏi: Ai là người được truyền thọ?
Tổ đáp: Năng được.
Chúng biết việc từ đó. Trước sau vài trăm người đuổi theo muốn đoạt y bát. Có một Tăng, tục danh Trần Huệ Minh, trước kia là tướng quân Tứ phẩm, tánh hạnh thô tháo, dẫn đầu chúng quyết chí đi tìm, đuổi kịp. Huệ Năng bèn để y bát trên đá, nói: Đây là vật làm tin, há có thể dùng sức đoạt ư? Liền ẩn vào bụi cỏ.
Huệ Minh chạy đến, nhấc không nhúc nhích, bèn kêu lên: Hành giả! Hành giả! Tôi vì pháp đến, chẳng vì y bát.
Huệ Năng bước ra, ngồi trên phiến đá. Huệ Minh đầu thành lễ lạy: Cúi xin hành giả vì tôi nói pháp.
Huệ Năng nói: Ông đã vì pháp mà đến, hãy dừng nghỉ các duyên, chớ sanh một niệm. Ta sẽ vì ông phương tiện.
Giây lâu, Huệ Năng nói: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, chính lúc ấy là một mũi chân thật của Thượng tọa Minh.
Vừa nghe, Huệ Minh đại ngộ. Lại hỏi: Ngoài mật ngữ mật ý trên, còn có mật ý nào không?
Huệ Năng nói: Đã nói với ngươi tức chẳng mật. Nếu ngươi phản chiếu, tự mật nào danh.
Huệ Minh nói: Con tuy ở Hoàng Mai, tự chưa biết mặt mũi chân thật của mình. Nay được ân hành giả chỉ dạy, như người uống nước nóng lạnh tự biết, hành giả tức Thầy của con.
Huệ Năng nói: Nếu ông nghĩ vậy, tôi cùng ông đồng thờ Tổ Hoàng Mai, hãy khéo tự hộ trì.
Huệ Minh lại hỏi: Con từ nay về sau đi hướng nào?
Huệ Năng nói: Gặp Viễn thì dừng, gặp Mông thì ở.
Huệ Minh lễ bái từ tạ. Đi xuống đến chân núi, bảo chúng đuổi theo: Hãy đi hướng khác, ta đến núi cao vẫn không thấy tung tích. Chúng cũng tin vậy.
Huệ Minh sau đổi thành Đạo Minh để khỏi trùng tên với thầy.
Huệ Năng về đến Tào Khê. Lại bị người ác truy tìm, nên lánh nạn trong đám thợ săn nơi Tứ Hội. Trải qua mười lăm năm, thường giữ lưới, mỗi khi thây thú sa lưới thời thả, có lúc lại tùy nghi nói pháp cho thợ săn. Đến bữa chỉ ăn rau nấu bên cạnh thịt. Chúng nghi hỏi, Ta bảo chỉ ăn được rau. Một hôm, Ta nghĩ đã đến lúc hoằng pháp, chẳng thể tránh mãi, bèn đến Quảng Châu, chùa Pháp Tánh, gặp lúc Pháp sư Ấn Tông giảng Kinh Niết-bàn. Có hai ông Tăng bàn luận về nghĩa gió phướn, một người nói gió động, một người nói phướn động, tranh cãi chẳng ngưng. Huệ Năng bước đến nói: Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động. Tâm các ông động.
Cả chúng giật mình. Ấn Tông bước đến chỗ ngồi, cật vấn nghĩa huyền, thấy Huệ Năng chẳng kẹt chữ nghĩa, lời lời phân minh rành rẽ. Ân Tông nói: Hành giả nhất định chẳng phải người tầm thường. Đã lâu nghe pháp y Hoàng Mai về Nam, có phải hành giả chăng?
Huệ Năng nói: Chẳng dám.
Ấn Tông liền lễ lạy, xin thỉnh y bát cho Đại chúng kính lễ.
Ấn Tông hỏi: Tổ Hoàng Mai phó chúc trao thọ thế nào?
Huệ Năng đáp: Trao thọ thời không, chỉ luận kiến tánh, không luận thiền định giải thoát.
Ấn Tông hỏi: Sao không luận thiền định giải thoát?
Huệ Năng nói: Đó là hai pháp, chẳng phải Phật pháp. Phật pháp là pháp chẳng hai.
Ân Tông lại hỏi: Thế nào là pháp chẳng hai?
Huệ Năng nói: Pháp sư giảng Kinh Niết-bàn, ngộ tánh Phật là pháp chẳng hai. Như Cao Quý Đức Vương Bồ-tát bạch Phật: Phạm bốn trọng cấm, làm ngũ nghịch tội và Nhất-xiển-đề có đoạn căn lành Phật tánh không? Phật trả lời: Căn lành có hai, một là thường, hai là vô thường; Phật tánh chẳng phải thường chẳng phải vô thường, cho nên chẳng đoạn, gọi là chẳng hai. Một là thiện, hai là bất thiện; Phật tánh chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, gọi là chẳng hai. Uẩn và giới, phàm phu thấy hai, người trí liễu đạt tánh không hai, tánh không hai tức là Phật tánh.
Ấn Tông nghe nói, chắp tay hoan hỷ thưa: Tôi giảng kinh như ngói nát, Ngài luận nghĩa như vàng ròng.
Tại đây Ân Tông vì Ta xuống tóc, nguyện thờ làm Thầy. Dưới cội Bồ-đề, Huệ Năng khai pháp môn Đông Sơn.
Huệ Năng đắc pháp ở Đông Sơn, mạng như chỉ mành, chịu nhiều gian truân khôn cùng. Hôm nay được cùng Sử quân, quan liêu, Tăng Ni, đạo tục tại đây đồng chung một hội. Vì lâu xưa nhiều kiếp có duyên, cùng trồng căn lành cúng dường chư Phật, nay mới được nghe nguyên nhân đắc pháp Đốn giáo. Giáo này là của bậc Thánh trước truyền, chẳng phải do tự trí của Huệ Năng. Mỗi người tịnh tâm, nguyện nghe lời dạy của bậc Thánh trước, nghe liễu rõ ràng, nghi tự dứt, như thế cùng Thánh xưa đâu khác.
Đại chúng nghe pháp vui mừng, lễ lạy mà lui.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
05/03/2016
Phẩm thứ mười - PHÓ CHÚC
Phẩm thứ mười - PHÓ CHÚC Một hôm, Tổ gọi các đệ tử Pháp Hải, Chí Thành, Pháp Đạt, Thần Hội, Trí Thường, Trí Thông, Chí Triệt, Chí Đạo, Pháp Trân, Pháp Như đến, nói rằng: Các ngươi không giống như người khác, sau khi Ta d...
05/03/2016
Phẩm thứ chín - HỘ PHÁP
Phẩm thứ chín - HỘ PHÁP Năm đầu niên hiệu Thần Long, ngày thượng nguyên, Hoàng đế Tắc Thiên và Vua Trung Tôn ra chiếu rằng: “Trẫm thỉnh hai vị An Quốc Sư và Thần Tứ Đại Sư vào cung để cúng dường, khi nhàn rỗi việc nước c...
05/03/2016
Phẩm thứ tám - ĐỐN TIỆM
Phẩm thứ tám - ĐỐN TIỆM Bấy giờ Tổ ở chùa Bảo Lâm Tào Khê, Đại sư Thần Tú ở chùa Ngọc Tuyền Nam Kinh, hai tông đốn tiệm giáo hóa hưng thạnh. Người người đều nói “nam Năng bắc Tú”, mà người học đạo chẳng biết chọn tông nà...
05/03/2016
Phẩm thứ bảy - CƠ DUYÊN
Phẩm thứ bảy - CƠ DUYÊN Tổ đắc pháp tại Hoàng Mai, đến ở thôn Tào Hầu, Thiểu Châu, không một ai biết. Bây giờ có nhà nho Lưu Chí Lược gặp, hết lòng lễ lạy tôn kính. Chí Lược có người cô đi tu tên Vô Tận Tạng, thường tụng...
05/03/2016
Phẩm thứ sáu - SÁM HỐI
Phẩm thứ sáu - SÁM HỐI Bấy giờ, dân chúng ở Quảng Châu, Thiều Châu cùng học sĩ bốn phương câu hội trong núi nghe pháp. Tổ thăng tòa bảo chúng: Thiện tri thức! Sự tu hành từ tự tánh quý vị khởi, trong tất cả thời niệm niệ...
05/03/2016
Phẩm thứ năm - DIỆU HẠNH
Phẩm thứ năm - DIỆU HẠNH Tổ bảo chúng: Pháp môn tọa thiền chính là chẳng chấp tâm, chẳng chấp tịnh, cũng chẳng chấp chẳng động. Nếu nói chấp tâm, tâm vốn là vọng, biết tâm như huyễn nên không chỗ chấp. Nếu nói chấp tịnh,...
05/03/2016
Phẩm thứ tư - ĐỊNH HUỆ
Phẩm thứ tư - ĐỊNH HUỆ Tổ bảo chúng: Thiện tri thức! Pháp môn Ta nói đây lấy Định Huệ làm gốc. Quý vị chớ mê nói định khác huệ. Định huệ một thể, chẳng phải hai: định là thể của huệ, huệ là dụng của định. Khi nói Huệ tức...
02/03/2016
Phẩm thứ ba - QUYẾT NGHI
Phẩm thứ ba - QUYẾT NGHI Một hôm Vi thứ sử thiết trai cúng dường. Thọ trai xong, Vi thứ sử thỉnh Sư thăng tòa. Quan liêu, học sĩ, thứ dân cung kính đảnh lễ thưa: Đệ tử nghe Hòa thượng thuyết pháp thật không thể sụy lường...
