Phẩm thứ bảy - CƠ DUYÊN
05/03/2016
Phẩm thứ bảy - CƠ DUYÊN Tổ đắc pháp tại Hoàng Mai, đến ở thôn Tào Hầu, Thiểu Châu, không một ai biết. Bây giờ có nhà nho Lưu Chí Lược gặp, hết lòng lễ lạy tôn kính. Chí Lược có người cô đi tu tên Vô Tận Tạng, thường tụng...

Phẩm thứ bảy - CƠ DUYÊN
Tổ đắc pháp tại Hoàng Mai, đến ở thôn Tào Hầu, Thiểu Châu, không một ai biết. Bây giờ có nhà nho Lưu Chí Lược gặp, hết lòng lễ lạy tôn kính. Chí Lược có người cô đi tu tên Vô Tận Tạng, thường tụng Kinh Đại Niết-bàn. Tổ nghe qua liền biết diệu nghĩa, vì Ni thuyết giảng. Cô Ni câu nệ văn chữ mà hỏi.Tổ bảo: Chữ tôi chẳng biết, nghĩa cô cứ hỏi.
Ni nói: Chữ không biết, nghĩa sao biết?
Tổ bảo: Diệu lý chư Phật chẳng ở chữ nghĩa.
Cô Ni giật mình rúng sợ, bảo các bậc kỳ đức trong làng: Đây là bậc Đạo nhơn, nên thỉnh cúng dường.
Bấy giờ có cháu của Ngụy Võ hầu là Tào Thúc Lương cùng dân làng đến chiêm lễ.
Xưa đời nhà Tùy, chùa Bảo Lâm bị giặc đất bỏ hoang, đến hôm nay dân chúng làng Nga, làng Bảo xây dựng lại, thỉnh Tổ về ở. Tổ trụ trì hơn chín tháng, lại bị bọn ác đuổi theo, Tổ bèn vào núi trốn. Bọn chúng phóng lửa đốt rụi cỏ cây, Tổ ẩn mình vào kẽ đá được thoát chết. Trên đá nơi Tổ tĩnh tọa nay vẫn còn in dấu ngồi và vằn y, nhơn đây gọi là “đá tị nạn”. Nhớ lời Ngũ Tổ dặn, Ngài bèn đến nơi hai ấp Hoài, Hội để ẩn.
Tăng Pháp Hải người Thiều Châu, tỉnh Khúc Giang. Khi gặp Tổ, thưa: Tức tâm là Phật, xin Ngài từ bi chỉ dạy.
Tổ bảo: Niệm trước chẳng sanh tức Tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật, trọn tất cả tướng tức Tâm, lìa tất cả tướng tức Phật. Nếu Ta nói đủ cùng kiếp cũng chẳng hết. Lóng nghe kệ Ta:
Tâm tức là Huệ
Phật tức là Định
Định, Huệ đồng nhau
Trong ý thanh tịnh.
Ngộ pháp môn này
Do tánh ngươi học,
Dụng vốn vô sanh
Chánh tu Định Huệ.
Pháp Hải dưới lời đại ngộ, dùng kệ tán thán:
Tâm này vốn là Phật
Chẳng ngộ nên tự khuất
Nay biết gốc Định Huệ
Định Huệ lìa các vật.
Tăng Pháp Đạt người Hồng Châu, xuất gia năm lên bảy, thường tụng Kinh Pháp Hoa, đến lễ Tổ đầu chẳng chấm đất.
Tổ quở: Lễ đầu chẳng chấm đất, như thế đừng lễ. Trong lòng ngươi ắt có một vật, hay chứa nhóm sự nghiệp gì?
Pháp Đạt nói: Tụng Kinh Pháp Hoa hơn ba ngàn bộ.
Tổ bảo: Nếu ngươi thông ý chỉ Kinh, tụng đến vạn bộ chẳng lấy làm thù thắng, thời cùng Ta đồng một hạnh. Ngươi câu nệ việc tụng kinh, nên có lỗi mà chẳng biết. Lóng nghe kệ Ta:
Lạy để trừ kiêu mạn
Sao đầu chẳng chấm đất
Có ngã, tội liền sanh
Phước lực mất không lường.
Tổ lại hỏi: Ngươi tên gì?
Thưa: Tên Pháp Đạt.
Tổ bảo: Ngươi tên Pháp Đạt mà chẳng đạt pháp. Hãy nghe kệ Ta:
Ngươi nay tên Pháp Đạt
Siêng trì kinh không nghỉ
Tụng suông có ích gì,
Tỏ tâm gọi Bồ-tát.
Ngươi nay có cơ duyên
Ta sẽ vì ngươi thuyết
Chỉ tin Phật vô ngôn
Hoa sen từ miệng nở.
Pháp Đạt nghe xong lễ lạy xin sám hối, cầu Tổ chứng minh: Từ nay về sau con nguyện hành hạnh cung kính khắp mọi người.
Pháp Đạt thưa: Đệ tử tụng Kinh Pháp Hoa chưa hiểu nghĩa Kinh, lòng thường sanh nghi. Hòa thượng trí huệ rộng lớn, xin Ngài từ bi chỉ dạy nghĩa lý trong Kinh.
Tổ bảo: Pháp Đạt! Pháp rất thẳm sâu, tâm ngươi chẳng thẳm sâu. Kinh vôn không nghi, tâm ngươi tự sanh nghi. Ngươi trì Kinh này lấy gì làm tông?
Pháp Đạt thưa: Con căn tánh ám độn, từ trước đến nay chỉ y văn tụng, chẳng biết tông chỉ của Kinh?
Tổ bảo: Ta chẳng biết đọc, ngươi lấy Kinh tụng Ta nghe một lần, Ta sẽ vì ngươi nói.
Pháp Đạt liền cất giọng tụng Kinh, đến phẩm Thí Dụ, Tổ bảo thôi: Kinh này lấy nhân duyên xuất thế làm tông, tuy nói ra nhiều ví dụ cũng không ngoài nhân duyên. Gì là nhân duyên? Kinh dạy: “Chư Phật Thế Tôn vì đại sự nhân duyên nên xuất hiện nơi thế gian, một đại sự nhân duyên đó là Khai Tri Kiến Phật”. Người đời ngoài mê chấp tướng, trong mê châp không. Nếu nơi tướng lìa tướng, nơi không lìa không, tức trong ngoài chẳng mê, một niệm thông suốt, ngộ pháp đây tức là Khai Tri Kiến Phật.
Phật là Giác, chia làm bốn: khai Giác tri kiến, thị Giác tri kiến, ngộ Giác tri kiến, nhập Giác tri kiến. Nếu nghe khai thị khéo ngộ nhập được bổn lai chân tánh, tức Giác tri kiến. Ngươi cẩn thận chớ lầm ý Kinh, cho chỉ có Phật mới khai thị ngộ nhập Phật tri kiến, còn chúng ta không có phần, nếu hiểu như thế hủy báng Kinh. Phật đã là Phật, đầy đủ tri kiến, nào khai, nào thị. Ngươi phải tin: tri kiến Phật của ngươi cùng Phật không khác! Tất cả chúng sanh ngoài tham luyến trần cảnh, trong loạn động, tánh quang minh bị che khuất, cam chịu rong ruổi, nhọc Đức Thế Tôn ra khỏi Tam-muội nói các thứ khổ, khuyên hãy dừng nghỉ, chớ hướng ngoại cầu, cho nên khai tri kiến Phật.
Ta khuyên quý vị thường khai tri kiên Phật nơi tâm. Người đời tâm tà, ngu mê tạo tội, miệng nói thiện mà lòng ác không bỏ, tham sân, tật đố, xiểm khúc, ngã mạn, tổn người hại vật, thường khai tri kiên chúng sanh. Nếu năng khởi tâm chân chánh soi rọi nơi lòng, trí huệ thường sanh, bỏ các điều ác làm các việc lành là khai tri kiến Phật. Ngươi phải niệm niệm khai tri kiến Phật, chớ khai tri kiến chúng sanh. Khai tri kiến Phật tức là xuất thế, khai tri kiến chúng sanh tức là thế gian. Ngươi nếu lao nhọc chấp niệm cho là công phu, khác gì trâu tiếc sợi lông!
Pháp Đạt thưa: Như thế chỉ cần hiểu nghĩa, chẳng nhọc tụng kinh ư ?
Tổ bảo: Kinh có lỗi gì, chướng ngăn ngươi tụng sao? Tại ngươi có mê ngộ nên có tổn có ích, miệng tụng tâm hành tức chuyển Kinh, miệng tụng tâm không hành tức bị Kinh chuyển. Hãy nghe Ta nói kệ:
Tâm mê Pháp Hoa chuyển
Tâm ngộ chuyển Pháp Hoa.
Tụng Kinh mãi không thông
Lầm nghĩa thành oan gia.
Vô niệm, niệm tức Chánh
Hữu niệm, niệm thành Tà
Hữu vô đều chẳng dụng
Thường ngồi xe trâu trắng.
Pháp Đạt nghe kệ đại ngộ, bật khóc thưa: Pháp Đạt con xưa nay bị Pháp Hoa chuyển, chưa từng chuyển Pháp Hoa.
Lại thưa rằng: Kinh dạy “Hết thảy các bậc Thanh văn cho đến Bồ-tát cộng chung lại cũng không thể tư nghi Phật trí”, nay Ngài dạy phàm phu chỉ ngộ tự tâm tức tri kiến Phật, chẳng phải thiện căn không khỏi nghi báng. Lại nữa, Kinh thuyết ba xe: xe dê, xe hươu và xe trâu trắng, khác nhau thế nào cúi xin Hòa thượng lần nữa khai thị.
Tổ bảo: Ý Kinh dạy rỗ, ngươỉ tự mê chẳng hiểu. Người của ba bậc chẳng thể suy lường Phật trí, càng suy lường càng cách xa, lỗi tạỉ suy lường. Phật vì phàm phu nói, chẳng phải nói cho Phật. Lý nầy chẳng tin, theo niệm sanh khởỉ mà thối đọa, thật chẳng biết đang cỡi xe trâu trắng lại hướng tìm ba xe. Vả lại Kinh dạy “Chỉ một Phật thừa, không có thừa khác hoặc hai, hoặc ba, cho đến vô số phương tiện các thứ nhân duyên, thí dụ, lờỉ lẽ, tất cả pháp đều một Phật thừa”, ngươi sao chẳng tỉnh ngộ ba xe là giả? Khi xưa Phật phương tiện giả lập ba xe, nên Nhất thừa là thật. Nay Ta dạy ngươi bỏ giả về thật, về thật rồi cái danh thật cũng không. Nên
biết đó là trân bửu của ngươi, tùy ngươi thọ dụng, chẳng nghĩ tưởng của cha, của con và cả cái thọ dụng, đấy gọi trì Kinh Pháp Hoa.
Từ đời này sang đời khác tay không cầm Kinh, mà từ ngày đến đêm không lúc nào chẳng phải Kinh, không lúc nào không chuyển Kinh.
Pháp Đạt nghe xong, lòng mừng hớn hở, dùng kệ khen rằng:
Tụng Kinh ba ngàn bộ
Tào Khê một câu sạch.
Chưa thông nghĩa xuất thế
Muôn kiếp sanh trí cuồng.
Giả lập dê hươu trâu
Trước sau giữa khéo bày
Ai ngờ trong nhà lửa
Sẵn có Vua muôn pháp!
Tổ bảo: Ngươi từ nay về sau mới có thể gọi là “Tăng Tụng Kinh”.
Pháp Đạt thọ huyền chỉ cũng không bỏ hạnh tụng kinh.
Tăng Trí Thông người ở An Phong, Thọ Châu. Ban đầu xem Kinh Lăng Già hơn ngàn lần mà chẳng hội ba thân bốn trí đến lễ Tổ cầu giảng thâm nghĩa.
Tổ bảo: Ba Thân: Thanh tịnh pháp thân, tánh của ngươi; Viên mãn báo thân, trí của ngươi; Thiên bách ức hóa thân, hạnh của ngươỉ. Nếu lìa bổn tánh riêng thuyết ba thân, tức có thân không trí. Nếu ngộ ba thân không có tự tánh, tức gọi bốn trí Bồ-đề. Hãy nghe kệ Ta:
Tự tánh đủ ba thân
ứng diệu thành bốn trí,
Chẳng lìa duyên thấy nghe
Siêu nhiên lên Phật địa.
Ta nay vì ngươi thuyết
Tin chắc không còn mê,
Chớ nhọc công rong ruổi
Trọn ngày nói Bồ-đề.
Trí Thông lại thưa: Xin cho con được nghe nghĩa của Bốn Trí.
Tổ bảo: Ba Thân đã hội, Bốn Trí bèn thông, sao còn hỏi nữa? Nếu lìa Ba Thân bàn nghĩa Bốn Trí, thời có trí không thân, cũng đồng không trí.
Lại thuyết kệ rằng:
Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh
Bình đẳng tánh trí tâm không bệnh
Diệu quan sát trí thấy không trụ
Thành sở tác trí như gương sáng.
Năm tám sáu bảy quả nhản chuyển
Chỉ có tên suông không tánh thật,
Chốn chốn nơi nơi chẳng lưu tình
Thường vui an lạc Na-già định.
Chuyển thức thành trí như trên. Trong Kinh dạy "Năm thức trước chuyển thành Thành sở tác trí, thức thứ sáu thành Diệu quan sát trí, thức thứ bảy thành Bình đẳng tánh trí, thức thứ tám thành Đại viên cảnh trí”. Tuy thức thứ sáu, thứ bảy chuyển trong nhơn, thức thứ năm, thứ tám chuyển trên quả, kỳ thật chỉ chuyển cái tên gọi mà thể không chuyển.
Trí Thông đốn ngộ tánh trí, bèn trình kệ:
Ba thân vốn một nhà
Từ trí từ tâm ra
Thân-trí thông không ngại
ứng vật tùy hình chuyển.
Khởi tu thành vọng động
Gìn giữ chẳng phải chơn
Diệu chỉ nhơn Thầy dạy
Tên nhiễm ô chẳng còn.'
Tăng Trí Thường người ở Qui Khê, Tín Châu, xuất gia lúc còn nhỏ, chí cầu thấy tánh, một hôm đến lễ Tổ.
Tổ hỏi: Ngươi từ đâu đến, muốn cầu việc gì?
Trí Thường thưa: Con lễ Đại Thông Hòa thượng ở núi Bạch Phong, Hồng Châu, mong Ngài chỉ dạy nghĩa “thấy tánh thành Phật”, vẫn chưa quyết nghỉ, nên từ xa đến ngưỡng cầu Hòa thượng khai thị.
Tổ hỏi: Đại Thông Hòa thượng dạy như thế nào, ngươi thuật lại Ta nghe.
Trí Thường thưa: Con đến đó ba tháng chưa được chỉ dạy, một hôm lòng thông thiết thành khẩn vào phương trượng hỏi: Thế nào là bổn tâm bổn tánh của con? Đại Thông Hòa thượng hỏi: Ngươi thấy hư không chăng? Thưa: Thấy. Đại Thông hỏi: Ngươi thấy hư không có tướng mạo không? Con nói: Hư không không hình, tướng mạo sao có? Hòa thượng dạy: Bổn tánh của ngươi cũng như hư không, không một vật khá thấy gọi là chánh kiến, không một vật khá biết gọi chơn biết, không có xanh vàng dài ngắn, chỉ thấy bổn nguyên thanh tịnh giác thể tròn đầy, tức gọi kiến tánh thành Phật, cũng gọi tri kiến Như Lai. Con tuy nghe lời ấy vẫn chưa liễu ngộ, cúi xin Hòa thượng khai thị.
Tổ bảo: Lời vừa rồi còn tri kiến, khiến ngươi chẳng thông. Hãy nghe kệ Ta:
Không thấy một pháp, còn thấy không
Khác chi mây lớn che trời đông,
Không biết một pháp, chấp biết không
Cũng như hư không sanh ánh chớp,
Tất cả thấy biết đều không thật
Nhận lầm phương tiện có ích chi,
Ngươi nơi một niệm tự biết quấy
Tự tánh linh quang thường hiển hiện,
Trí Thường nghe xong, tâm trí bừng tỉnh, bèn đáp kệ rằng:
Bỗng dưng khởi tri kiến
Chấp tướng cầu Bồ đề,
Dầu còn một niệm ngộ
Chẳng khỏi kiếp mê xưa.
Thể giác dụ tinh minh
Tùy hình hiện chuyển lưu,
Chẳng vào thất Tổ sư
Lận đận nơi bến bờ.
Một hôm Trí Thường thưa: Đức Phật thuyết pháp Tam thừa, lại nói Tối thượng thừa, con chưa thông ý chỉ, nguyện Thầy chỉ dạy.
Tổ bảo: Ngươi tự quán bổn tâm, chớ đắm tướng các pháp bên ngoài. Pháp không bốn thừa, tâm ngươi tự sai khác. Thấy nghe chuyên tụng là Tiểu thừa, ngộ pháp giải nghĩa là Trung thừa, y pháp tu hành là Đại thừa. Muôn pháp suốt thông, muôn pháp đầy đủ, tất cả chẳng nhiễm, lìa các pháp tướng, không một chỗ được, gọi Tối thượng thừa. Thừa nghĩa là thực hành, chẳng phải miệng tranh, ngươi phải tự tu chớ hỏi Ta, trong tất cả thời tự tánh tự như.
Trí Thường lễ lạy, xin làm thị giả trọn đời thờ Tổ.
Tăng Chí Đạo người Nam Hải, Quảng Châu, thưa: Con từ khi xuất gia đọc Kinh Niết-bàn hơn mười năm chưa rõ đại ý, ngưỡng nguyện Hòa thượng dạy bảo.
Tổ bảo: Ngươi chưa hiểu chỗ nào?
Chí Đạo thưa: Con nghi ngờ đoạn Kinh nầy:
Các hành vô thường Là pháp sanh diệt,
Sanh diệt diệt rồi Tịch diệt là vui.
Tổ hỏi: Ngươi nghi thế nào?
Chí Đạo thưa: Tất cả chúng sanh đều có hai thân là sắc thân và pháp thân, sắc thân vô thường có sanh có diệt, pháp thân thường vô tri vô giác. Kinh dạy “Sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui”, con chẳng biết thân nào tịch diệt, thân nào thọ vui? Nếu sắc thân khi diệt tứ đại phân tán, tất nhiên là khổ, khổ không thể nói vui. Nếu pháp thân tịch diệt thời đồng cỏ cây ngói đá, ai là người thọ vui? Vả lại, pháp tánh là thể của sanh diệt, năm uẩn là dụng của sanh diệt. Một thể năm dụng, sanh diệt là thường, khi sanh từ thể khởi dụng, khi diệt dụng thu về thể. Nếu nghe bèn sanh, tức đồng các loại hữu tình chẳng đoạn chẳng diệt. Nếu chẳng nghe bèn sanh, thời xưa nay tịch diệt, đồng các vật vô tình, như vậy tất cả các pháp bị Niết-bàn che ngăn sanh chẳng được, sao có vui?
Tổ quở: Ngươi là Sa-môn Thích tử, sao học theo tà kiến đoạn thường của ngoại đạo mà luận pháp Tối thượng thừa? Như lời ngươi nói, thời ngoài sắc thân riêng có pháp thân, lìa sanh diệt cầu nơi tịch diệt. Lại bỏ Niết-bàn thường lạc nói có thân thọ dụng, lầm nhận sanh tử, đam mê thú vui thế tục. Ngươi phải biết Đức Phật vì hết thảy người mê nhận tướng hòa hợp của năm uẩn làm tự thể, phân biệt tướng tất cả pháp sanh khen chê, niệm niệm thay đổi không dừng, chẳng biết là mộng huyễn hư dối, cam chịu luân hồi. Đem Niết-bàn thường lạc đổi tướng khổ, suốt ngày rong ruổi tìm cầu, nên Phật xót thương khai thị cái vui chân thật là Niết-bàn. Sát-na không có tướng sanh, sát-na không có tướng diệt, không có sanh diệt để diệt tức tịch diệt hiện tiền. Đương lúc hiện tiền cũng không lượng hiện tiền, mới gọi vui chân thật. Cái vui đây không có người thọ cũng không không thọ, làm sao có tên một thể năm dụng, huống có Niết-bàn ngăn che các pháp khiến chẳng sanh? Đây là tội báng Phật chê Pháp.
Lóng nghe Ta nói kệ:
Đại Niết-bàn vô thượng
Thường tịch chiếu viên minh,
Phàm phu bảo là chết
Ngoại đạo chấp là đoạn,
Các người cẩu Nhị thừa
Cho đó là vô tác.
Hết thảy đều tình kiến
Sáu mươi hai tà chấp
Vọng lập danh hư dối
Nào có nghĩa chân thật.
Duy chỉ người có trí
Suốt thông không thủ xả
Thấu rõ pháp năm uẩn
Dụng ngã trong năm uẩn.
Ngoài hiện các sắc tướng
Mỗi mỗi tướng âm thanh
Bình đẳng như huyễn mộng
Chẳng khởi thấy thánh phàm
Chẳng tạo Niết-bàn riêng
Biên bờ ba thời dứt.
Các căn thường ứng dụng
Mà chẳng khởi dụng tưởng,
Phân biệt tất cả pháp
Chẳng khởi tưởng phân hiệt.
Kiếp hỏa cháy bể sâu
Gió thổi nghiêng núi lớn,
Chơn thường tịch diệt lạc
Niết-bàn tướng như thế.
Ngươi chớ đuổi theo lời
Thời có biết chút phần.
Chí Đạo nghe kệ đại ngộ, vui mừng lễ tạ mà lui.
Thiền sư Hành Tư họ Lưu, ở An Thành, Kiết Châu, nghe pháp Tào Khê giáo hóa hưng thạnh đến lễ lạy, thưa rằng: Nên làm việc gì khỏi rơi vào giai cấp?
Tổ hỏi: Ngươi từng làm việc gì?
Hành Tư trả lời: Vua thánh cũng chẳng làm.
Tổ bảo: Rơi vào giai cấp nào?
Hành Tư đáp: Vua thánh cũng chẳng tóm, làm gì có giai cấp.
Tổ khen: Rất sâu xa! Rồi sai làm Thủ chúng.
Một hôm, Tổ gọi đến bảo: Ngươi nên hoằng hóa một phương, chớ để dứt tuyệt.
Hành Tư đắc pháp trở về Cát Châu, núi Thanh Nguyên, hoằng pháp hưng thịnh, hiệu là Hoằng Tế thiền sư.
Thiền sư Hoài Nhượng họ Đỗ, ở Kim Châu, ban đầu đến Tung Sơn yết kiến An Quốc Sư. An Quốc Sư chỉ đến Tào Khê tham vấn, Hoài Nhượng đến lễ lạy.
Tổ hỏi: Từ nơi nào đến?
Đáp: Tung Sơn.
Tổ hỏi: Đem vật gì đến?
Đáp: Giống một vật thời chẳng đúng.
Tổ hỏi: Lại có thể tu chứng chảng?
Đáp: Tu chứng chẳng phải không, nhiễm ô chẳng thể được.
Tổ bảo: Chính chẳng nhiễm ô đó chư Phật sở hộ niệm. Ngươi đã như thế, Ta cũng như thế. Tổ Bát Nhã Đa La huyền ký dưới chân ngươi có con ngựa câu đạp chết người trong thiên hạ, ứng tại tâm ngươi.
Hoài Nhượng hốt nhiên khế ngộ, bèn xin làm thị giả, hầu Tổ mười lăm năm, ngày càng thâm ngộ đạo huyền, về sau đến núi Nam Nhạc xiển dương Thiền tông. Vua sắc phong hiệu Đại Huệ thiền sư.
Thiền sư Vinh Gia Huyền Giác, họ Đới, ở Ôn Châu. Lúc nhỏ học tập kinh luận, tinh thông pháp môn chỉ quán của tông Thiên Thai Nhơn xem Kinh Duy Ma Cật phát minh được tâm địa. Gặp Huyền Sách đệ tử của Tổ, đàm luận lời lời khế hợp chư Tổ.
Sách hỏi: Nhơn giả đắc pháp với Thầy nào?
Giác nói: Tôi nghe kinh luận Phương Đẳng, mỗi mỗi có thầy truyền, tôi nhơn xem Kinh Duy Ma ngộ được Phật tâm, chưa có thầy chứng minh.
Sách nói: Trước Phật Oai Âm Vương thời được, sau Phật Oai Âm Vương không thay tự ngộ đồng với thiên nhiên ngoại đạo.
Giác nói: Xin nhơn giả vì tôi chứng minh,
Sách nói: Lời tôi nhẹ. Ở Tào Khê hiện có Lục Tổ Đại sư, ngươi bốn phương câu hội thọ pháp, nếu muốn cùng đi.
Giác bèn cùng Sách đốn bái kiến Lục Tổ. Giác đi nhiễu ba vòng, chống tích trượng đứng.
Tổ hỏi: Phàm Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại đức từ phương nào đến mà sanh đại ngã mạn?
Giác nói: Sanh tử việc lớn, vô thường nhanh chóng.
Tổ nói: Sao chẳng ngay thể vô sanh, liễu không chóng ư ?
Giác nói: Thể tức vô sanh, liễu vốn không chóng.
Tổ bảo: Đúng thê! Đúng thế!
Huyền Giác bèn đủ oai nghi lễ lạy, giây lát xin về.
Tổ bảo: Sao vội về?
Giác nói: Gốc vốn không động, há có nhanh chậm ư ?
Tổ nói: Ai biết không động?
Giác nói: Nhơn giả tự sanh tâm phân biệt.
Tổ bảo: Ngươi được ý vô sanh rất sâu.
Giác nói: Vô sanh há có ý sao?
Tổ hỏi: Không ý ai đang phân biệt?
Giác nói: Phân biệt cũng chẳng phải ý-
Tổ bảo: Lành thay Lành thay! Tạm ở lại một đêm.
Nhơn đó người ta gọi “nhất túc giác”. Về sau Huyền Giác viết “Chứng Đạo Ca” lưu truyền ở đời, hiệu là Chơn Giác, vua phong Vô Tướng Đại Sư.
Thiền sư Trí Hoàng ban đầu tham vấn Ngũ Tổ, tự cho được chánh thọ, ẩn cư suốt 20 năm ngồi thiền. Huyền Sách đi du phương đến Hà Sóc, nghe tiếng đến thăm hỏi rằng: Ông ở đây làm việc gì?
Hoàng đáp: Nhập định.
Sách nói: Ông nhập định như thế nào, hữu tâm nhập hay vô tâm nhập? Nếu vô tâm nhập thời đồng với tất cả vô tình, cỏ cây ngói đá lẽ cũng được định. Nếu hữu tâm nhập thời tất cả hữu tình, tình thức lưu chuyển lẽ cũng được định.
Hoàng đáp: Khi tôi vào chánh định chẳng thấy có tâm hữu vô.
Sách bảo: Chẳng cỏ tâm hữu vô tức là thường định, sao còn xuất nhập? Nếu có xuất nhập thời chẳng phải đại định.
Hoàng không trả lời được, giây lâu hỏi Thầy ông là ai?
Sách nói: Thầy tôi là Lục Tổ ở Tào Khê.
Hoàng hỏi: Lục Tổ dạy lấy gì làm thiền định.
Sách nói: Thầy tôi dạy “Tánh thiền thanh tịnh, thâm diệu viên thông, thể dụng như như, năm ấm vốn không, sáu trần chẳng có, không xuất, không nhập, không định, không loạn. Tánh thiền vô trụ, lìa trụ thiền tịch; tánh thiền vô sanh, lìa sanh thiền tưởng. Tâm như hư không, cũng không lượng hư không”.
Hoàng nghe như thế, bèn đến yết kiến Tổ.
Tổ hỏi: Nhân giả từ đâu đến?
Hoàng thuật đủ nhân duyên như trước.
Tổ bảo: Lời Huyền Sách nói là thật.
Tổ thương Trí Hoàng tâm thành từ xa đến, bèn phương tiện quyết nghi, Trí Hoàng nhơn đây đại ngộ, những điều tâm đắc hai mươi năm đều sụp đổ. Đêm ấy ở Hà Bắc mọi người nghe trong hư không có tiếng nói “Thiền sư Trí Hoàng hôm nay đắc đạo”. Sau từ biệt Tổ, Trí Hoàng về Hà Bắc khai hóa bốn chúng.
Có chú tiểu bọ Cao tên Thần Hội, tuổi 13, ở chùa Ngọc Tuyền đến lễ Tổ.
Tổ hỏi: Tri thức khó nhọc từ xa đến có biết được bổn lai chăng? Nếu biết bổn lai thời biết làm chủ, hãy nói thử Ta xem.
Tiểu nói: Lấy vô trụ làm bổn, thấy tức là chủ.
Tổ quở: Ấy! Sa-di sao nói lời nầy?
Tiểu lại hỏi: Hòa Thượng ngồi thiền thấy hay không thấy?
Tổ lấy gậy đánh Thần Hội ba gậy rồi hỏi: Ta đánh ngươi đau hay không đau?
Tiểu đáp: Cũng đau cũng không đau.
Tổ nói: Ta cũng thấy cũng không thấy.
Tiểu hỏi vặn: Tại sao nói cũng thấy cũng không thấy?
Tổ bảo: Chỗ thấy của Ta thường thấy lỗi nơi lòng, không thấy thị phỉ tốt xấu của người, nên nói cũng thấy cũng không thấy. Còn ngươi cũng đau cũng không đau nghĩa là sao? Ngươi nếu không đau giống như gỗ đá, đau thời như phàm phu, ắt sanh oán hận. Ngươi hỏi Ta thấy không thấy là nhị biên, đau không đau là sanh diệt, ngươi đã chẳng thấy tự tánh lại dám đùa cợt.
Thần Hội sụp đầu lễ lạy sám hối.
Tổ lại nói: Nếu ngươi tâm mê phải cầu Thiện tri thức mách bảo, nếu ngươi tâm ngộ tức thấy tự tánh, như pháp tu hành. Ngươi đã mê không tự biết, còn hỏi Ta thấy không thấy. Ta thấy, Ta tự biết, đâu can hệ gì cái mê của ngươi, ngươi nếu tự thấy, đâu giúp gì cái mê của Ta. Sao không tự biết, còn hỏi Ta thấy, không thấy?
Thần Hội ân cần sám hối hơn trăm lạy, xin ở lại hầu Tổ chẳng rời.
Một hôm, Tổ bảo chúng: Ta có một vật không đầu không đuôi, không danh không tự, không mặt không trái. Các ngươi có biết chăng?
Thần Hội bước ra nói: Đó là bổn nguyên chư Phật, Phật tánh của Thần Hội.
Tổ quở: Ta đã bảo không danh không tự, sao ngươi còn nói Phật tánh bổn nguyên? Ngươi lấy cọng tranh che đầu là cái tạo ra, dẫu đi cùng trời cuối đất cũng chỉ là con cháu của hàng tri giải.
Tổ dứt lời. Thần Hội tự ngộ.
Sau khi Tổ nhập diệt, Thần Hội đến kinh đô Lạc Dương hoằng pháp đốn giáo Tào Khê, viết quyển “Hiển Tông Ký” lưu truyền ở đời, hiệu là Thiền sư Hà Trạch.
Có một Tăng đến hỏi Tổ: Ai là người được ý chỉ Hoàng Mai?
Tổ nói: Người hội Phật pháp được.
Tăng hỏi: Hòa Thượng được chăng?
Tổ bảo: Ta chẳng hội Phật pháp.
Một hôm, Tổ muốn giặt y Ca-sa của Ngũ Tổ truyền mà không có suối tốt, bèn ra sau cách chùa năm dặm, thấy cây cối xinh tươi, khí lành hội tụ, Tổ lấy tích trượng dộng xuống đất, dòng nước theo gậy tuôn lên, tức thời chứa thành ao. Tổ quỳ gối trên đá giặt y. Lúc ấy có Tăng tên Phương Biện đến ra mắt.
Tổ hỏi: Thượng nhân làm nghề gì?
Biện đáp: Làm nghề đắp tượng.
Tổ hiện sắc đoan nghiêm, bảo: Ngươi thử đắp tượng Ta.
Phương Biện ra sức vài ngày mới xong, chân tượng cao bảy tấc, đường nét diệu kỳ.
Tổ cười nói: Ngươi giỏi đắp tánh tượng mà chẳng rõ tánh Phật.
Nói xong xoa đầu tượng thọ ký, lưu lại làm ruộng phước cho trời người. Tổ dùng y trả công cho Phương Biện. Phương Biện lấy y chia làm ba phần, một đắp lên chân tượng, một lưu giữ, một đựng vào hộp đem chôn xuống đất phát nguyện: Nguyện đời sau tôi ra đời, trụ trì ở đây trùng tu ngôi Tam Bảo, được lại y nầy.
Đến đời Tống, Gia Hựu năm thứ tám, có Tăng Duy Tiên trùng tu chánh điện, được lại y vẫn còn mới. Tượng nay còn thờ tại chùa Cao Tuyền, cầu cúng rất linh ứng.
Có vị Tăng đọc bài kệ của Thiền sư Ngọa Luân:
Ngọa Luân có nghề khéo
Năng đoạn trăm tư tưởng
Đối cảnh tâm không khởi
Bồ-đề ngày tăng trưởng.
Tổ nghe xong, nói: Kệ này chưa tỏ tâm địa, nếu y kệ đây tu càng thêm trói cột. Nhơn đây Tổ đọc bài kệ:
Huệ Năng không nghề khéo
Chẳng đoạn trăm tư tưởng
Đối cảnh tâm cứ khởi
Bồ-đề không tăng trưởng.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
05/03/2016
Phẩm thứ mười - PHÓ CHÚC
Phẩm thứ mười - PHÓ CHÚC Một hôm, Tổ gọi các đệ tử Pháp Hải, Chí Thành, Pháp Đạt, Thần Hội, Trí Thường, Trí Thông, Chí Triệt, Chí Đạo, Pháp Trân, Pháp Như đến, nói rằng: Các ngươi không giống như người khác, sau khi Ta d...
05/03/2016
Phẩm thứ chín - HỘ PHÁP
Phẩm thứ chín - HỘ PHÁP Năm đầu niên hiệu Thần Long, ngày thượng nguyên, Hoàng đế Tắc Thiên và Vua Trung Tôn ra chiếu rằng: “Trẫm thỉnh hai vị An Quốc Sư và Thần Tứ Đại Sư vào cung để cúng dường, khi nhàn rỗi việc nước c...
05/03/2016
Phẩm thứ tám - ĐỐN TIỆM
Phẩm thứ tám - ĐỐN TIỆM Bấy giờ Tổ ở chùa Bảo Lâm Tào Khê, Đại sư Thần Tú ở chùa Ngọc Tuyền Nam Kinh, hai tông đốn tiệm giáo hóa hưng thạnh. Người người đều nói “nam Năng bắc Tú”, mà người học đạo chẳng biết chọn tông nà...
05/03/2016
Phẩm thứ sáu - SÁM HỐI
Phẩm thứ sáu - SÁM HỐI Bấy giờ, dân chúng ở Quảng Châu, Thiều Châu cùng học sĩ bốn phương câu hội trong núi nghe pháp. Tổ thăng tòa bảo chúng: Thiện tri thức! Sự tu hành từ tự tánh quý vị khởi, trong tất cả thời niệm niệ...
05/03/2016
Phẩm thứ năm - DIỆU HẠNH
Phẩm thứ năm - DIỆU HẠNH Tổ bảo chúng: Pháp môn tọa thiền chính là chẳng chấp tâm, chẳng chấp tịnh, cũng chẳng chấp chẳng động. Nếu nói chấp tâm, tâm vốn là vọng, biết tâm như huyễn nên không chỗ chấp. Nếu nói chấp tịnh,...
05/03/2016
Phẩm thứ tư - ĐỊNH HUỆ
Phẩm thứ tư - ĐỊNH HUỆ Tổ bảo chúng: Thiện tri thức! Pháp môn Ta nói đây lấy Định Huệ làm gốc. Quý vị chớ mê nói định khác huệ. Định huệ một thể, chẳng phải hai: định là thể của huệ, huệ là dụng của định. Khi nói Huệ tức...
02/03/2016
Phẩm thứ ba - QUYẾT NGHI
Phẩm thứ ba - QUYẾT NGHI Một hôm Vi thứ sử thiết trai cúng dường. Thọ trai xong, Vi thứ sử thỉnh Sư thăng tòa. Quan liêu, học sĩ, thứ dân cung kính đảnh lễ thưa: Đệ tử nghe Hòa thượng thuyết pháp thật không thể sụy lường...
02/03/2016
Phẩm thứ hai - BÁT NHÃ
Phẩm thứ hai - BÁT NHÃ Hôm sau, Vi sử quân thỉnh hỏi. Tổ thăng tòa bảo Đại chúng: Quý vị hãy tịnh tâm, niệm Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa. Lại nói: Thiện tri thức! Bồ-đề trí Bát Nhã người người vốn sẵn có, chỉ duyên tâm mê...
