Buddha.com.vn

I. THU BẢY ĐẠI

04/01/2017

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn Như Lai thường nói về nhân duyên hòa hợp rằng ; Tất cả thứ biến hóa trong thế gian đều do bởi bốn đại hòa hợp mà phát hiện ra. Thế sao Như Lai đều bài bác cả hai nghĩa nhân duyên...

I. THU BẢY ĐẠI
Phần 1

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn Như Lai thường nói về nhân duyên hòa hợp rằng ; Tất cả thứ biến hóa trong thế gian đều do bởi bốn đại hòa hợp mà phát hiện ra. Thế sao Như Lai đều bài bác cả hai nghĩa nhân duyên và tự nhiên ? Nay tôi không biết nghĩa ấy thế nào, xin Phật rủ lòng thương xót khai thị cho chúng sanh nghĩa rốt ráo của Trung Đạo, không còn các pháp hý luận.”
Lúc bấy giờ, Thế Tôn bảo Ông Anan rằng : “Trước ông đã chán lìa các pháp Tiểu Thừa Thanh Văn, Duyên Giác mà phát tâm quyết cầu Bồ Đề Vô Thượng, nên ta nay vì ông mà khai thị cái Đệ Nhất Nghĩa Đế, sao ông lại còn đem những thứ vọng tưởng nhân duyên, hý luận của thế gian mà tự trói buộc? Ông tuy là nghe nhiều mà như người nói tên vị thuốc, đến khi thuốc thật ở trước mắt lại chẳng hề phân biệt được. Như Lai bảo thế thật là đáng thương xót ! Nay ông hãy nghe kỹ, ta sẽ vì ông phân biệt khai thỉ. Cũng để cho những người tu Đại thừa mai sau thông đạt cái Thật Tướng.”
Ông Anan lặng yên, kính vâng thánh chỉ của Phật.

Thông rằng : Ông Anan mong Thế Tôn khai thị Trung Đạo. Nếu cho thực tại là nhân duyên hòa hợp của thế gian, thi mắc vào Có (Hữu). Nếu bài bác cả hai thứ nhân duyên và tự nhiên thì lại chìm đắm vào Không. Cái chẳng phải Có, chẳng phải Không mới là Trung Đạo. Ông không biết cái Bồ Đề Vô Thượng là cái Trung Đạo không chỗ bám nắm, mới là Đệ Nhất Nghĩa Đế vậy. Cái Đệ Nhất. Nghĩa Đế này siêu khỏi mọi Âm, Nhập, Xứ, Giới chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên. Thấy các tướng chẳng phải tướng, tức đó là Đại Thừa Thật Tướng.
Ông Anan muốn rời bỏ Tiểu thừa mà cầu cáỉ Bồ Đề Vô Thượng. Nay chỉ cho đó là Tánh Diệu Chân Như, thì hoang mang ngơ ngác, chẳng hiểu ra sao, như người nói ra tên thuốc, mà cái chơn dược ở ngay trước mắt lại chẳng có hay. Thật đáng thương xót ! Than ôi, thuốc nào có dễ biết!
Bồ tát Văn Thù một ngày nọ bảo Đồng tử Thiện Tài đi hái thuốc.
Ngài nói : "Cái gì là thuốc hãy hái mang về."
Thiện Tài xem khắp đại địa không có gì chẳng phải là thuốc, trở về bạch rằng : "Không có cái gì mà chẳng phải là thuốc."
Ngài Văn Thù nói: "Cái gì là thuốc hái mang về đây."
Thiện Tài bèn ngay trên mặt đất ngắt lên một cọng Cỏ, đưa cho Ngài Văn Thù. Ngài Văn Thù cầm lấy, đưa lên cho đại chúng xem, rồi nói : "Thuốc này cũng hay giết người, cũng hay cứu người."
Tổ Vân Môn nói : "Thuốc và bệnh hiện hữu vì nhau, khắp cõi đất là thuốc, cái gì là tự kỷ ?"
Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :
"Khắp cõi đất là thuốc
Xưu nay sao quá lầm
Đóng cửa chẳng làm xe (để dùng)
Đuờng thông tự trống rộng
Lầm, lầm !
Lỗ mũi xa trời cũng xuyên suốt!"
Theo ý bài tụng này, thì chân dược hiện tiền ấy cũng cần mửa ra hết, huống là cái chuyện chẳng thể phân biệt của Anan !

Phần 2

Kinh: “Anan, như chỗ ông nói : Tứ đại hòa hợp phát hiện ra các thứ biến hóa trong thế gian. Anan, các đại ấy tánh chẳng phải hòa hợp thì không thể trộn lẫn với các đại khác, cũng như hư không không thể hòa hợp được với các sắc. Nếu tánh của các đại là hòa hợp thì cũng đồng như các thứ biến hóa, trước sau hóa thành lẫn nhau, sanh diệt nối nhau, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh sanh sanh diệt diệt như vòng lửa quay tròn, chưa hề ngừng nghỉ. Anan, như nước thành băng, băng trở lại thành nước.

Thông rằng : Nếu nói tứ đại chẳng phải hòa hợp, thì chẳng phải nghĩa Chân Như tùy duyên, đồng như ngoan không mà thôi. Nếu nói tứ đại nhất định phải hòa hợp, thì chẳng phải là nghĩa Chân Như bất biến, giống như biến hóa mà thôi. Như nước thành băng, băng trở lại thành nước, tứ đại vốn là Như Lai Tạng Tánh, chẳng phải ngoài nước mà có băng. Nước hòa với cái gì mà thành băng ? Băng hòa với cái gì mà thành nước ?
Vốn chỉ là một vật, không có cái gì khác hòa lẫn vào. Tìm cầu tướng hòa hợp rõ là chẳng thể có, do đó, thật chẳng phải hòa hợp mà cũng chẳng phải không hòa hợp. Chỉ vì mê thì Chân Như là tứ đại : như nước thấy thành băng. Ngộ, thì tứ đại là Chân Như: như băng vốn là nước. Nước vốn là một mà thôi vậy.
Có vị tăng hỏi Tổ Lâm Tế : "Thế nào là bốn cảnh vô tướng ?"
Tổ Lâm Tế nói : "Ông khởi một niệm tâm nghi, bèn bị đất ngăn ngại. Ông khởi một niệm tâm ái, bèn bị nước nhận chìm. Ông khởi một niệm tâm sân, liền bị lửa cháy thiêu. Ông có một niệm tâm hỷ, liền bị gió thổi bay. Nếu hay rõ ràng dược như thế, Cảnh nào trói buộc nổi? Chốn chốn đều dừng được cảnh : Đông mọc Tây lặn, Nam mọc Tây chìm, giữa nổi bên chìm, bên nổi giữa chím. Đi trên nước như trên đất, vào đất như nước. Do sao mà vậy ? vì thấu suốt tứ đại như mộng như huyễn vậy, Này các đạo hữu ! Nay đây cái nghe pháp là ông, chẳng phái là tứ đạt của ông, mà hay dùng tứ đại của ông. Thấy được như thế, thì bèn đi hay ở đều tự do."
Xem như lời Tổ Lâm Tế thì đi đâu cũng lá nước, làm gì Có băng đâu ?
Tổ Dược Sơn nhân có thí chủ cúng dường bộ thường phục. Đưa ra trước chúng, nói rằng : ''Pháp thân có đủ bốn đại hay không ? Nói được, thì cho một áo lá."
Ngài Đạo Ngô nói: "Tánh đất chẳng phải là Không. Không chẳng phải là tánh đất. Đó là Đại Địa. Ba đại kia cũng thế."
Tổ Sơn nói: "Cho ông một cái áo lá."
Chỗ thấy của Ngài Đạo Ngô sao lại trái ngược với kinh này ? Thử tham xem !

Phần 3

Kinh: “Ông hãy xét cái tánh của địa đại: thô lớn thì làm đất liền, nhỏ nhặt thì làm vi trần, cho đến lân hư trần, do chia chẻ cái sắc cực vi nhỏ nhất làm bảy phần mà thành. Nếu chẻ lân hư trần nữa, thì thật là tánh hư không.
“Anan, nếu cái lân hư trần đó chẻ ra thì thành hư không, vậy thì biết hư không sanh ra sắc tướng. Nay ông hỏi rằng: Do hòa hợp mà sanh ra các tướng biến hóa trong thế gian, thì ông hãy xét một cái lân hư trần dùng bao nhiêu hư không hòa hợp lại mà có? Không lẽ lân hư trần hợp lại thành lân hư trần? Mà lân hư trần đã chẻ ra được thành hư không, thì dùng bao nhiêu sắc tướng đế hợp thành hư không ? Nếu sắc hợp lại thì hợp sắc không thể thành hư không. Nếu hư không hợp lại, thì hợp hư không làm sao ra thành sắc ? Sắc có thể chẻ ra được, chứ hư không làm sao mà hợp lại được ?
“Ông vốn chẳng biết, trong Như Lai Tạng : tánh sắc là Chân Không, tánh Không là Chân sắc, bản nhiên thanh tịnh, tròn khắp pháp giới, tùy tâm chứng sanh ứng ra chỗ hay biết, theo nghiệp mà hiện bày, Thế gian không biết, lầm cho là nhân duyên hay tự nhiên. Đó đều là thức tâm phân biệt, đo lường : chỉ có lời nói, danh tự, toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng: Bài tụng Pháp Giới rằng ;
"Có ai muốn biết lý Chân Không
Chân Như trong thân hiện khắp ngoài
Tình với vô tình chung một thể
Chốn chốn đều đồng Pháp Giới chơn!"
Đây là yếu chỉ của bảy đại.
Chân Không là cái Thể Nhất Như vậy. Bảy đại là cái dụng duyên theo nghiệp vậy. Thể, dụng không hai, nương nhau mà hiển, chẳng lìa Diệu Tánh, nên mỗi mỗi đều là Tánh. Duy chỉ một Tánh. Không là tánh Không, sắc là tánh Sắc, bèn Tức Không, Tức sắc, đó là Diệu Hữu, đó là Diệu Chân Như Tánh vậy. Không sa vào Hữu, Vô nên nói là thanh tịnh, mà chưa từng chẳng Hữu, Vô nên gọi là bản nhiên. Là trong sạch, tức nhân duyên chẳng thể ô nhiễm. Là bản nhiên, tức chẳng phải hòa hợp mà thành. Cái gì mà từ nhân duyên hay hòa hợp sanh, đó chỉ là hình tướng, có nơi chốn làm sao mà đầy khắp pháp giới ? Duy chỉ chẳng từ nhân duyên hay hòa hợp mà sanh thì không hình tướng, không xứ sở nên toàn khắp pháp giới. Toàn khắp pháp giới là Tánh, thì có gì chẳng phải là thất đại ? Toàn khắp pháp giới là thất đại thì có gì chẳng phải là Tánh ?
Tâm Như Lai chỉ một vị thanh tịnh, chỉ một vị bản nhiên, chỉ một vị toàn khắp nên không thể biết, không thể lường. Tâm của chúng sanh thì ở nơi cái thanh tịnh ấy lại có thời gian mà ô nhiễm. Ở trong cái bản nhiên ấy lại có thời gian mà chẳng như nhiên. Ở trong cái toàn khắp ấy, lại có thời gian mà hạn hẹp. Tùy cái tâm năng tri, xứng vừa với cái lượng sở tri. Biết cho lắm thì tích tụ thành nghiệp, nghiệp tích tụ thành quả, có thiện, có ác mà biến tạo ra cái Y báo, Chánh báo mười cõi. Tâm của chúng sanh tán loạn không bờ nên nghiệp của chúng sanh cũng đầy dẫy không bờ. Tâm ây nếu không có cái Tánh toàn khắp pháp giới làm thể thì làm sao tùy nghiệp mà phát hiện, để càng phát ra thì càng vô cùng ư ?
Nghiệp lực của chúng sanh mỗi mỗi chẳng đồng. Nhưng đồng ở trong cái Thanh Tịnh Bổn Nhiên, một mảy lông cũng chẳng hề thêm bớt, nên nói rằng xuẩn động hàm linh đều có Phật Tánh. Thế gian mê lầm chẳng ngộ Tam Giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức. Thế nên, ở nơi những sự việc phát hiện ra theo nghiệp, thấy ra là có nhân duyên sanh, mà lầm cho là tánh nhân duyên ; còn thấy ra là không có nhân duyên sanh thì lầm cho là tánh tự nhiên. Chẳng rõ cái Thanh Tịnh Bổn Nhiên thì sự Có Không đều lìa, cả nhân duyên hay tự nhiên đều không có ở nơi nào để bám níu.
Nói là nhân duyên sanh ư ? Thế thì lân hư duyên với cái gì để sanh ra hư không, hư không duyên với gì mà sanh ra hư ? Chỉ có hư không duyên với hư không, chỉ có Sắc mới duyên với sắc. Dù cho lân hư chẻ ra thành hư không, thì phải bao nhiêu hư không để hiện thành lân hư Lân hư chẳng phải do hư không mà có, thì hư không cũng chẳng phải nhân lân hư chẻ thành, sắc, không đã chẳng thể sanh lẫn nhau, thì sự sanh ra của địa đại là vô tự tánh
Thế nên, nói nhân duyên hòa hợp sanh là sai lầm vậy
Nói là tự nhiên sanh ư ? Hư không nào có vô cớ mà có hư không, sắc nào có vô cớ mà có sắc. Chẳng có nhân chẻ lân hư, thì nào có thấy được hư không ? Chẳng nhân gom tụ lân hư, làm sao thành địa đại ? Thế thì sự sanh ra của địa đại nào phải không có nguyên nhân mà tự nhiên bỗng có đâu ?
Do đó, nói tự nhiên sanh là sai lầm.
Cả hai thuyết đều là do thức tâm phân biệt suy lường, không phải nhân duyên mà gượng nói nhân duyên ; không phải tự nhiên mà gượng cho là tự nhiên, chỉ là lời nói, toàn là hý luận không có căn cứ. Nào có biết rằng Như Lai Tạng Tánh chẳng có khởi lên đối với cái thấy, chẳng bám vào cái tướng. Không khởi nơi cái thấy, cho nên suy tính không thể tới nổi. Không bám nơi cái tướng nên lời nói không thể thấu đến. Đó là cái chỗ mà tâm hành xứ diệt(23) ngôn ngữ hết đường, ấy mới là Thật Tướng, mới là Đệ Nhất Nghĩa Đế vậy.
Thiền sư Tần Bạt Đà hỏi Pháp sư Sanh : "Thầy giảng kinh luận gì ?"
Thầy Sanh đáp : "Kinh Đại Bát Nhã."
Sư Đà nói : "Làm thế nào nói nghĩa sắc không ?" Thầy Sanh đáp : "Các vi trần tụ lại là sắc, các vi trần vô tự tánh là Không."
Sư Đà nói: "Vi trần chưa tụ, gọi là gì?*
Thầy Sanh không giãi bày được.
Thiên sư Đà lại hỏi: "Còn giảng kinh nào khác nữa ?"
Thầy Sanh đáp : "Kinh Đại Niết Bàn."
Sư Đà nói: "Nói nghĩa Niết Bàn như thế nào ?"
Thầy Sanh đáp : "Niết mà chẳng sanh, Bàn mà chẳng diệt, nên gọi đó là Niết Bàn."
Sư Đà nói : "Cái ấy là Niết Bàn của Như Lai, cái gì là Niết Bàn của Pháp sư ?"
Thầy Sanh đáp : "Nghĩa của Niết Bàn há có hai sao ?
Tôi chỉ như thế này, chưa hiểu Thiền sư nói Niết Bàn như thế nào ?"
Sư Đà đưa cây hốt như ý lên, rồi nói: "Thấy chăng ?" Đáp : "Thấy,"
Sư Đà nói : "Thấy cái gì ?"
Đáp : "Thây cái hốt như ý trong tay Thiền sư."
Sư Đà ném cái hốt như ý xuống đất, rồi hỏi: "Thấy không ?"
Đáp : "Thấy,",
Sư Đà nói: "Thấy cái gì ?"
Đáp : "Thấy cái hốt trong tay Thiền sư rớt xuống đất/' Thiền sư chê rằng : "Xem qua chỗ thấy hiểu của ông, chưa ra khỏi đám thường tình, sao gọi được là làm ồn náo vũ trụ."(24)
Rồi phất tay áo bỏ đi.
Các đệ tử của pháp sư nghi ngờ chưa dứt, bèn chạy theo níu Thiền sư Đà lại, hỏi: "Thầy tôi nói sắc không, Niết Bàn chẳng khế hợp, chưa rõ Thiền sư nói nghĩa sắc không như thế nào ?"
Thiền sư Đà nói : "Ta chẳng nói thầy các con thuyết không được đúng, nhưng thầy các con chỉ nói sắc không trên quả vị, mà chẳng biết nói cái sắc không ngay chỗ nguyên nhân"
Đệ tử thưa : "Như thế nào là sắc không ngay chỗ nguyên nhân ?"
Thiền sư Đà nói : "Một vi trần Không nên chúng vi trần Không. Chúng vi trần Không nên một vi trần Không. Trong một vi trần Không, không có chúng vi trần. Trong chúng vi trần Không, không có một vi trần."
Đây không phải là lời Thiền sư Đà đặt ra, vì kinh nói: Một căn thanh tịnh nên các căn thanh tịnh. Các căn thanh tịnh nên một căn thanh tịnh. Trong một căn thanh tịnh không có các căn. Trong các căn thanh tịnh không có một căn.
Lấy chỗ này phát minh thì chẳng phải khó hiểu. Bèn cùng với "Tánh sắc Chân Không, Tánh Không Chân sắc" chỉ ngay đường vào.

Phần 4

Kinh:Anan, tánh lửa vô ngã, nhờ ở các duyên mà hiện. Ông hãy xem các nhà chưa nấu ăn ở trong thành, khi muốn nấu bếp thì tay cầm kính dương toại đưa ra ngoài mặt trời mà cầu lửa.
“Anan, phàm gọi là hòa hợp thì như Ta, ông và một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo nay hợp thành một chúng. Chúng tuy là một, nhưng gạn xét về căn bản, thì mỗi người đều có thân, đều có chỗ sanh, tên hiệu, họ hàng của mình. Như Ông Xá Lợi Phất thuộc dòng Bà La Môn, Ông Ưu Lâu Tần Loa thì thuộc dòng Ca Diếp Ba, cho đến Ông Anan thì thuộc dòng Cù Đàm.
“Anan, nếu tánh lửa nhân hòa hợp mà có ra, thì khi người kia cầm kính lấy lửa nơi ánh sáng mặt trời, lửa đó từ trong kính mà ra, do từ bùi nhùi mà có hay là từ mặt trời mà đến?
“Anan, nêu từ mặt trời mà đến, lửa ấy đã đốt được bùi nhùi trong tay ông, thì nhưng rừng cây mà ánh sáng mặt trời đi qua phải bị đốt cháy cả. Nếu từ trong kính mà ra, thì lửa ấy đã có thể từ nơi kính ra mà đốt cháy bùi nhùi, làm sao kính lại không bị chảy. Cho đến cả tay cầm kính cũng không thấy nóng, thì làm sao kính chảy ra được. Nếu do bùi nhùi sanh ra, thì cần gì ánh sáng mặt trời và kính tiếp xúc với nhau, rồi lửa mới sinh. Ông hãy xét cho kỹ : kính thì do tay cầm, ánh sáng mặt trời thì từ trên xuống, còn bùi nhùi thì từ đất sanh, vậy lửa từ phương nào đến đây ? Mặt trời và kính xa nhau, chẳng có hòa, chẳng có hợp không lẽ lửa kia không do đâu mà tự có?
“Ông còn không biết rằng : Trong Như Lai Tạng, tánh hỏa là Chân Không, tánh Không là Chân Hỏa, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng vừa với chỗ hay biết.
“Anan, ông phải biết : Người đời cầm kính ở một chỗ thì một chỗ lửa sanh, khắp pháp giới cầm kính thì khắp pháp giới có lửa. Lửa khắp thế gian mà nào có nơi chốn, chỉ theo nghiệp phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho là tánh nhân duyên và tánh tư nhiên. Hết thảy đều là sự phân biệt, đo lường của thức tâm : chỉ có lời nói, danh tự, toàn không có thật nghĩa.

còn tiếp

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục