Buddha.com.vn

TÓM THU VỀ NHƯ LAI TẠNG - I. TÓM THU

10/12/2016

Kinh : Anan, ông còn không biết rằng hết thảy các tướng huyễn hóa của tiền trần ngay nơi chỗ mà sanh ra, tùy theo chỗ mà diệt mất. Hư huyễn vì mê vọng nên nói là tướng, chứ thật tánh chúng là Diệu Giác Minh Thể. Như vậy,...

TÓM THU VỀ NHƯ LAI TẠNG - I. TÓM THU
Phần 1

Kinh : Anan, ông còn không biết rằng hết thảy các tướng huyễn hóa của tiền trần ngay nơi chỗ mà sanh ra, tùy theo chỗ mà diệt mất. Hư huyễn vì mê vọng nên nói là tướng, chứ thật tánh chúng là Diệu Giác Minh Thể. Như vậy, cho đến năm Ấm, sáu Nhập, mười hai Xứ và mười tám Giới đều là : - nhân duyên hòa hợp: in tuồng có sanh ra ; ' nhân duyên chia lìa : in tuồng diệt mất. Quyết chẳng biết rằng sanh, diệt, đến, đi vốn là Như Lai Tạng Tánh thường trụ, mầu sáng, bất động, tròn khắp, tánh diệu Chân Như. Trong tánh Chân Thường ấy mà tìm cầu cho ra tướng đến, đi, mê, ngộ, sanh, tử rốt là không chỗ được.

Thông rằng : Ở đây bày thẳng Đốn Môn, mở ra con đường Diệu Bồ Đề, tức là ngay trong phù trần huyễn hóa mà chứng Chân Như. "Trong Tánh Chân Thường mà tìm cầu cho ra tướng đến, đi, mê, ngộ, sanh, tử rốt là không chỗ được."
Các thứ Âm, Nhập, Xứ, Giới chỉ có tướng huyễn vọng. Huyễn không tự tánh, nương Chân mà lập như hoa đốm khởi lên giữa hư không, toàn thể hoa đốm là hư không. Như sóng sanh trên nước, toàn sóng là nước, Cho nên kinh nói 'Tánh của chúng thật là Diệu Giác Minh Thể", thể này chính là Pháp thân. Tự nó gồm chứa vô lượng công đức nên gọi là Như Lai Tạng. Vốn chẳng đến đi, nên gọi là Thường Trụ. Vốn chưa từng mê muội, nên gọi là Điệu Minh, vốn không sanh diệt, nên gọi là Bất Động. Vốn tự sẵn đủ nên nói làTròn Khắp, Châu Viên. Một vị Thường Trụ nên đến đi bất khả đắc. Một vị Diệu Minh nên mê ngộ bất khả đắc. Một vị Bất Động nên sanh tử bất khả đắc. Một vị Tròn Khắp nên Chân Thường.
Cái gọi là Tánh Chần Như Mầu Nhiệm ở đây kỳ thật là cái "Xưa nay không một vật" vậy.
Có nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : "Kẻ học nhân này chẳng hiểu, Hòa thượng chỉ bày như thế nào ?"
Tổ Hoàng Bá nói : "Ta không có một vật nào hết. Từ xưa đến giờ chẳng từng đem ra một món vật cho người. Ông từ vô thủy đến nay chỉ vì bị người ta chỉ bày rồi tìm kiếm chuyện khê' hợp, tìm kiếm chuyện hiểu ngộ. Như thế thì chẳng phải cả thầy trò đều lọt vào nạn vua sao ? Ông chỉ cần biết rằng, một niệm chẳng thọ tức là không có cái thân thọ. Một niệm không tưởng đến tức là không có cái thân tưởng. Quyết chẳng có trôi theo sự tạo tác, tức là không có cái thân hành. Chẳng có nghĩ suy, so sánh, phân biệt tức là không có cái thân thức. Nay ông vừa khởi ra một niệm tức thì có ngay vòng Thập Nhị Nhân Duyên : vô minh duyên ra hành, vừa nhân vừa quả ; cho đến lão, tử cũng vừa nhân vừa quả.
"Cho nên Đồng tử Thiện Tài đi một trăm mười nơi cầu thiện tri thức, chỉ là hướng vào Thập Nhị Nhân Duyên mà cầu. Sau Tốt gặp Đức Di Lặc. Đức Di Lặc lại chỉ đến gặp Đức Văn Thù. Văn Thù ấy, chính là cái Bổn Địa Vô Minh của ông. Nếu tâm tâm riêng khác, hướng ngoài mà tìm cầu thiện tri thức, thì một niệm vừa sanh liền diệt, vừa diệt liền sanh. Bởi thế, Tỳ kheo các ông cũng sanh, cũng lão, cũng bệnh, cũng tử. Trả nhân đền quả xưa nay, tức là sự sanh diệt của năm tụ. Năm tụ là năm ấm. Một niệm chẳng khởi tức là mười tám giới bèn không, ngay thân là hoa trái BồĐề, ngay tâm tức là Bát Nhã. Nếu có chỗ dừng bám, thì ngay thân là xác chết, cùng gọi là quỷ giữ xác chết."
Lời nói này của Tổ Hoàng Bá chẳng phải làm sáng tỏ câu kinh "Hư huyễn vì mê vọng nên nói là tướng, chứ thật tánh của chúng chính là Diệu Giác Minh Thể" đó sao?
Ông Hạo Nguyệt cúng dường, hỏi Tổ Trường Sa : "Rõ thì nghiệp chướng vốn là không. Chưa rõ, nợ xưa đành trang trải(1) vậy thì Tổ Sư Tử Tôn giả và Nhị Tổ Huệ Khả vi sao phải trả nợ xưa?"
Tổ Sa nói: "Đại đức chẳng biết Bổn Lai Không"(2)
Hỏi: "Như thế nào là Bổn Lai Không ?"
Đáp: "Là nghiệp chướng"
Hỏi: "Như thế nào là nghiệp chướng ?"
Đáp : "Là Bổn Lai Không"
Rồi Tổ Sa dùng bài kệ chỉ bày:
"Giả Có, vốn chẳng Có
Giả diệt, cũng chẳng Không
Nghĩa Niết Bàn, trả nợ
Một tánh, chẳng khác gì."
(Giả Hữu nguyên phi Hữu
Giả diệt diệc phi Vô
Niết Bàn, thường trái nghĩa
Nhất tánh, cánh vô thù.)
Lời dạy này của Tổ Trường Sa chẳng phải làm rõ câu "Sanh diệt, đến đi đều vốn là Tánh Chân Như tròn khắp, bất động, mầu sáng, thường trụ của Như Lai Tạng" đó sao ?
Lai Tổ Giáp Sơn về Tổ Định Sơn vừa đi vừa nói chuyện
Tổ Định Sơn nói : "Trong sanh tử mà không có Phật thì không có sanh tử."
Tổ Giáp Sơn nói : 'Trong sanh tử mà có Phật thì chẳng mê sanh tử."
Hai bên chẳng chịu nhau, bèn có đến Tổ Đại Mai.
Giáp Sơn bèn thuật lại và hỏi chỗ thấy, hiểu của ai gần hơn.
Tổ Mai nói : "Một gần, một xa."
Giáp Sơn lại hỏi : "Cái nào gần."
Tổ Mai rằng : "Thôi về đi, ngày mai đến."
Hôm sau, Giáp Sơn lại tới hỏi nữa.
Tổ Mai nói : "Gần thì chẳng hỏi, hỏi thì chẳng gần."
Sau này, Ngài Giáp Sơn tự bảo : "Lúc đó mất một con mắt lẻ."
Đây là một tắc, chẳng phải làm rõ câu "Trong Tánh Chân Thường mà cầu cho ra những cái đến đi, mê ngộ, sanh tử rốt là không được" đó sao ?
Bản chú giải xưa cho rằng : Từ bảy chỗ trưng tâm và biện ra cái thấy cho đến đây là rộng phá chấp ngã, là pháp Quán Không, Xa Ma Tha. Từ đây trở xuống là rộng phá chấp pháp, tức là pháp Quán Giả, Tam Ma Đề. Đối với chỗ "Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật" còn cách xa một đoạn đường.
Như thế là chưa hiểu rằng pháp Diệu Xa Ma Tha mà Ông Anan hỏi, thì ở đây, được đáp là Diệu Chân Như Tánh. Chỉ một chữ Diệu, thật khó hình dung, người ngộ tự biết lấy.

Phần 2

A. THU SẮC ẤM
Kinh : Anan, thế nào năm Ẩm vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh?

Thông rằng : Năm Ấm cũng gọi là năm Uẩn. Uẩn nghĩa là chứa nhóm, tích tụ. Ấm nghĩa là che đậy. Tích tụ hữu vi, che đậy Chân Tánh, cho nên cùng gọi là phạm vi của năm ấm, rất là khó phá. Ở đây nói "Vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh" là nói suy từ gốc thì năm ấm duyên khởi từ trong Như Lai Tạng mà lưư xuất ư ? Hay là nói năm ấm đều Không, tức hiển bày Tánh Diệu Chân Như ư ? Điều này thuộc về Đốn Môn, tức là ở đoạn trước gọi là "Con Đường Diệu Tu Hành các Tam Ma Đề Đại Tổng Trì". Chính là ở đây chỉ rằng : Ngũ ấm tức là Như Lai Tạng, tức là Tánh Diệu Chân Như, không hai, không khác ! Như thế thì dẹp tan ngũ ấm, cũng không có thứ lớp. Như luận về lý Đốn Ngộ, phải ngay đây thấy được năm ấm đều tự vô sanh, đều tự tịch tĩnh, cầu tướng năm ấm rốt là không thể được. Thế thì năm ấm đâu chẳng phải là Chân Như, mà Chân Như nào chẳng hề là năm ấm ư ?
Có nhà sư hỏi Tổ Quy Sơn An rằng : "Rời bỏ năm ấm, thế nào là cái thân xưa nay ?"
Tổ An nói: "Đất, nước, lửa, gió, thọ, tưởng, hành, thức."
Vị sư nói : "Cái đó là năm ấm."
Tổ An nói: "Cái đó chẳng phải năm ấm."
Lại hỏi: "Cái ấm này đã hết mà cái ấm kia chưa sanh, thì như thế nào ?"
Tổ An nói: "Cái ấm này chưa hết, Đại đức là cái gì ?"
Đáp : "Chẳng hiểu được."
Tổ An nói : "Nếu hiểu cái ấm này, bèn rõ ấm kia."
Như theo Tổ An, quả là thấu suốt Ngũ Ấm vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh.

Phần 3

Kinh : Anan, ví như có người dùng con mắt trong sạch xem hư không trong sạnh, chỉ thấy một hư không trong sáng, vắng lặng chẳng có gì, Người ấy khi không chẳng lay động con mắt, nhìn sững hồi lâu nên mỏi mắt, bèn ở nơi hư không riêng thấy hoa đốm loạn xạ, lại thấy có tất cả những tướng giả dối lăng xăng. Nên biết rằng Sắc ấm cũng là như thế.
“Anan, các hoa đốm lăng xăng ấy chẳng phải từ hư không mà đến, chẳng phải từ con mắt mà ra. Thật vậy, Anan, nếu nói từ hư không mà đến, đã từ hư không đến thì phải lại trở vào hư không. Nếu có ra, có vào như thế thì đã chẳng phải là hư không. Hư không mà chẳng phải trống rỗng thì tự nhiên không thể dung chứa hoa đốm sanh diệt ở trong ấy, cũng như thân thể Anan không thể dung chứa được một Anan khác.
"Còn cho rằng hoa đốm từ con mắt mà ra, đã từ con mắt ra thì phải trở vào con mắt. Lại cái tính hoa đốm ấy đã từ con mắt mà ra thì lẽ ra phải có tánh thấy. Nếu có tánh thấy thì khi đã ra làm hoa đốm giữa hư không, phải trở lại thấy được con mắt. Nếu không có tánh thấy, thì khi đi ra phải che lấp hư không, khi trở vào phải che lấp con mắt! Hơn nữa, khi thấy hoa đốm, đáng lẽ con mắt phải không lòa, chứ sao thấy hư không trong sáng thì mới gọi là con mắt trong sạch?
"Vậy, nên biết rằng : Sắc ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.

Thông rằng : Ngài Long Thọ có bài kệ :
"Các pháp chẳng tự sanh
Cũng chẳng do (cái) khác sanh
Chẳng chung, chẳng không nhân
Nên gọi là vô sanh."
(Chư pháp bất tự sanh
Diệc bất tùng tha sanh
Bất cọng bất vô nhân
Thị cố thuyết vô sanh.)
Phàm các pháp chẳng tự sanh, vì chờ có các duyên vậy. Chẳng do cái khác sanh, vì các duyên đều vô tự tánh. Chẳng cùng sanh vì thể của trí và tu hành là không ; vô tự tánh nên không hợp, không tán. Chẳng không nhân, vì phải chờ tu hành giác ngộ mới hiển lộ, chứ chẳng phải tự nhiên mà thành.
Hãy biết rằng cái Diệu Giác Minh Thể này lìa ngoài hết thảy mọi lỗi lầm, vốn tự vô sanh vậy. Từ năm Ấm, sáu Nhập, mười hai Xứ, mười tám Giới cho đến bảy Đại chẳng có chỗ nào không làm rộng sáng cái ý này. Ngộ được vô sanh tức là Con mắt thanh tịnh. Xưa nay vốn tự không hoa đốm, chỉ vì nhìn sững mà hoa mắt. Trái với chân, hiệp với vọng, bèn thấy có hoa. Hoa vốn không thể, chẳng từ đâu sanh. Chỉ hết bệnh nhặm, hoa cuồng loạn tự diệt. Nếu ở nơi hoa đốm lăng xăng mà cho là có chỗ sanh ra, tức là tánh nhân duyên ; nói là không có chỗ phát sanh, là tánh tự nhiên. Nay xét chỗ sanh ra, thì chẳng ở hư không mà sanh, cũng chẳng ở con mắt mà sanh, thì rõ là chẳng phải nhân duyên. Nếu quả là tự nhiên mà có thì khi thấy hoa đốm lẽ ra tự mình không có bệnh nhăm. Nếu không có bệnh nhăm mà thấy hoa đốm thì con mắt thấy hoa đốm phải gọi là con mắt trong sạch! .Và thấy hư không trong sáng phải là con mắt nhặm ! Thế, tại sao khi thấy hư khôngtrong sáng lại gọi là con mắt trong sạch ? Hoa đốm này chắc phải do bệnh nhặm mà sanh, chứ rõ ràng chẳng phải tự nhiên vậy !
Ôi ! Hoa đốm đã thế, thì sắc ấm cũng thế. Vốn đều hư vọng, vốn vô tự tánh, tức sắc tức Không. Cho nên gọi đó vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh vậy.
Đức Mã Tổ dạy chúng rằng : "Ba cõi duy chỉ là Tâm, muôn hình vạn tượng đều là một Pháp Ấn. Phàm thấy sắc là thấy tâm. Tâm chẳng tự là tâm, nhân sắc mà có. Các ông chỉ tùy thời mà nói năng, thì sự tức là lý, đều không chỗ ngại. Đạo quả Bồ Đề cũng lại như thế. Nơi tâm sanh ra thì gọi là sắc. Biết sắc là không thì sanh tức là chẳng sanh. Nếu hiểu ý này mới khá tùy thời ăn cơm mặc áo, nuôi lớn thánh thai,(3) mặc tình qua ngày qua buổi, còn chuyện gì đâu ! Các ông thọ lãnh giáo pháp của ta, hãy nghe kệ rằng :
"Tâm địa tùy thời nói
Bồ Đề chỉ là thế
Sự, lý đồng không ngại
Đang sanh tức chẳng sanh."
(Tâm địa tùy thời thuyết Bồ Đề diệc chỉ ninh
Sự, lý cu vô ngại
Đương sanh tức bất sanh.)
Tổ Vân Môn dạy chúng rằng : "Chân Không chẳng hoại Có. Chân Không không khác sắc."
Có vị sư hỏi : "Cái gì là Chân Không ?"
Tổ Môn nói : "ông có nghe tiếng chuông không ?"
Đáp : "Đó là tiếng chuông."
Tổ Môn nói : "Năm Lừa(4) mộng thấy được sao ?"
Thiền sư Cao An Nhân dạy chúng rằng : "Bình thường chẳng muốn hướng theo lời trước, câu sau mà cổ vũ đùa giỡn với nam nữ nhà người. Vì sao ? Vì thanh chẳng phải thanh, sắc chẳng phải sắc."
Có vị tăng hỏi : "Như thế nào là thanh chẳng phải thanh ?"
Đáp : "Gọi là sắc được không ?"
Hỏi : "Như thế nào là sắc chẳng phải sắc ?"
Đáp : "Gọi là thanh được chăng ?"
Vị tăng làm lễ tạ.
Tổ Bèn nói : "Hãy thử nói xem : vì ông mà nói ? Hay đáp lại lời ông ? Nếu có người rõ được thì có chỗ nhập."
Tổ Đơn Hà tụng rằng :
"Sắc tự sắc, hề, thanh tự thanh
Oanh non hót liễu, khói mong manh
Cửa cửi đều thông về kinh quốc
Nghiêng nghiêng ba đảo, biển đầy trăng."
(Sắc tự sắc hề thanh tự thanh
Tân oanh đề xứ liễu yên kinh
Môn môn hữu lộ thông kinh quốc Tam đảo tà hoành hải nguyệt minh.)
Cho nên, biết sắc Ấm vốn là Tánh Diệu Chân Như, liền đạt Vô Sanh đó.

Phần 4

B. THU THỌ ẤM
Kỉnh : Anan, ví như có người tay chân yên ổn, năm vóc điều hòa, bỗng như quên mình, không có gì là trái là thuận. Người ấy khi không lấy hai bàn tay xoa nhau giữa hư không, thì nơi hai bàn tay ấy giả dối sanh ra những Cảm Xúc trơn rít, lạnh nóng. Nên biết Thọ Am cũng lại như thế.
Anan, các cảm xúc giả dối kia không phải từ hư không mà đến, không phải từ bàn tay mà ra. Thật vậy, Anan, nếu từ hư không mà đến thì đã sanh cảm xức nơi bàn tay, sao lại không sanh cảm xúc nơi thân thể, không lẽ hư không lại biết lựa chỗ để sanh ra cảm xúc ? Nếu như từ bàn tay mà ra, thì lẽ ra không cần hai tay phải hợp lại. Lại đã từ bàn tay mà ra thì khi bàn tay hợp lại, biết có cảm xúc, đến khi bàn tay rời ra thì cảm xúc phải chạy vào, và xương tủy cánh tay phải biết đường vào của cảm xúc. Rồi hẳn phải có tâm hay biết, biết ra, biết vào và phải có một vật gì đi lại trong thân, sao lại phải chờ đến hai tay hợp lại mới gọi là cảm xức?
“Vậy, nên biết rằng : Thọ Âm hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên, chẳng phải tính tự nhiên.

Thông rằng : Trong cái Tạng Tánh không có các lãnh thọ. Khởi ra xúc tình nơi cảnh, đem cảnh vào tâm thì gọi là thọ, Cho nên lấy hai tay xoa vào nhau thì hư vọng sanh ra trơn rít, lạnh nóng... Lạnh nóng vốn không có, do tiếp xúc mà có, nên gọi là huyễn xúc. Nếu thọ ấm do nhân duyên hay tự nhiên mà sanh thì không thể gọi là hư vọng. Nay thọ chẳng phải từ hư không cũng chẳng phải từ bàn tay, tức là chẳng phải nhân duyên. Phải chờ hợp lại mới biết tức là chẳng phải tự nhiên. Chẳng phải nhân duyên,chẳng phải tự nhiên, đương thể tịch diệt, vốn tự chẳng sanh thì không phải là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh sao ? Gọi là Nhiệm Mầu (Diệu), vì thọ mà thật chẳng thọ.
Đức Thế Tôn nhân có vị Phạm Chí Trương Trảo đến để nghị luận, và cam đoan trước rằng : "Nếu cái nghĩa của tôi rớt, tôi sẽ tự chặt đầu."
Thế Tôn nói: "Nghĩa của ông lấy gì làm Tông ?"
Ông Pham Chí đáp : "Tôi lấy Tất cả đều chằng lãnh thọ làm Tông
Thế Tôn nói: "Cái thấy đó có thọ không?"
Vị Phạm Chí phất tay áo bỏ đi. Đến giữa đường, ông bèn tỉnh ngộ mà bảo với đệ tử rằng : "Ta phải trở lại dâng đầu cho Thế Tôn!"
Các đệ tử nói: "Trước đại chúng trời, người, ngài đã thắng cuộc, sao lạt chém đầu ?"
Ông đáp : "Ta thà ở trước người trí mà chém đầu còn hơn ở giữa người vô trí mà đắc thắng."
Rồi than rằng : "Nghĩa của ta bị rớt vào cả hai chỗ : Cái thấy mà có thọ, là rơi vào phần thô. Cái thấy mà không thọ, là rơi vào phần tế. Tất cả trời, người và hàng Nhị thừa đều chẳng biết chỗ rơi kẹt của cái nghĩa ta đưa ra. Chỉ có Thế Tôn và các Đại Bồ tát biết được cái nghĩa của ta bị rớt"
Bèn trở lại chỗ Thế Tôn và thưa rằng : "Nghĩa của tôi bị rớt kẹt ở hai nơi, xin tự chăt đầu dâng Ngài."
Đức Thế Tôn dạy : "Trong pháp của ta không có việc như vậy. Ông nên hồi tâm mà hướng về đạo."
Ông Phạm Chí bèn cùng năm trăm đệ tử xuất gia theo Phật và chứng A La Hán.
Ôi, Thọ Ấm vi tế đến như vậy, đâu dễ gì phá !

Phần 5

Kinh : Anan, vì như có người khi nghe nói đến trái mơ chua thì trong miệng chảy nước miếng. Khi nghĩ đến đứng trên vực núi thì lòng bàn chân thấy rợn rợn. Nên biết Tưởng Ấm lại cũng như vậy.
“Anan, câu chuyện mơ chua như thế chẳng từ trái mơ mà sanh ra, chẳng phải do cái miệng mà vào. Thật vậy, Anan, nếu do quả mơ sanh ra thì trái mơ tự nói lấy, nào phải chờ đến người nói? Nếu do cái miệng mà vào thì cái miệng tự nghe lấy, cần gì đến lỗ tai! Nếu chi có lỗ tai nghe, thì nước miếng kia sao không từ lỗ tai chảy ra ! Chuyện nghĩ đến đang đứng trên vực núi lại cũng như vậy.
“Vậy, nên biết rằng : Tưởng Ấm là hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên, chẳng phải tính tự nhiên.

Thông rằng : Tư tưởng vốn không có thật tướng, do tâm mà thành có tướng, nên gọi là Tướng. Nghĩ tưởng đến trái mơ chua thì chảy nựớc miếng. Nghĩ tưởng đến vực cao thì cảm thấy lòng bàn chân rợn rợn. Trái mơ nào có miệng, chỉ có nói đến thôi, thì nước miếng do đâu mà tới ? Nên có là do tưởng vậy. Lại nữa, trong mộng mà nói đến trái mơ chua, người nói chẳng phải là người thật, cái nghe lại chẳng phải lỗ tai, thì nước miếng do đâu mà tới, đó là kết quả của tưởng vậy. Nếu cái tưởng này là tánh nhân duyên thì chắc là không thể ngoài trái mơ chua và miệng mà có. Nay việc nói chẳng phải là từ quả mơ, việc nghe chẳng do miệng, lỗ tai lại chẳng chảy nước miếng, mà trong miệng lại có nước sanh ra, thì rõ ràng không phải là nhân duyên.
Nếu cái tưởng này là tánh tự nhiên, thì khi nói trái mơ chua lẽ ra lòng bàn chân phải thấy rờn rợn, nói đứngtrên vực thẳm thì lẽ ra nước miếng chảy ra. Mà nay mỗi thứ đều tùy theo chủng tử, tập khí, chẳng phải không lý do mà tự nhiên có, nên rõ ràng là không phải tự nhiên.
Chắng phải là nhân duyên, chẳng phải là tự nhiên, ngay đang lúc tưởng, tức là vô tưởng, Như Như, một tánh nhiệm mầu vậy.
Có một vị đạo sĩ hỏi Tổ Vạn Tùng : "Kẻ đệ tử này hơn ba mươi năm trừ dẹp vọng tâm mà không xong !"
Tổ Tùng nói : "Tôi có bốn câu hỏi đưa ra để tỏ cái Toàn Chân :
"Câu hỏi thứ nhất : Vọng tâm đã có từ lâu mau rồi ?
"Câu hỏi thứ hai : Xưa nay vốn có vọng tâm không ?
"Câu hỏi thứ ba : Vọng tâm làm sao mà đoạn ?
"Câu hỏi thứ tư : "Vọng tâm đoạn là phải hay không đoạn là phải ?"
Vị tăng lạy tạ rồi đi.
Ngài Hoàng Sơn Triệu Văn Nhụ thân cận Viên Thông Quốc sư, từng có bài tụng :
"Vọng tưởng xưa nay vốn là Chân
Khi trừ lại dây một lớp trần
Nói, suy, động, tĩnh nhờ gì đó ?
Kỹ lưỡng mà xem, ai khác đâu."
(Vọng tưởng nguyên lai bổn tự Chơn
Trừ thời hựu khởi nhất trùng trần
Ngôn, tư, động, tĩnh thừa thùy lực
Từ tế khán lai vô biệt nhơn.)
Thuở Phật còn tại thế, có ba người anh em nghe ở nước Tỳ Da Ly có người dâm nữ tên là Am La Bà Ly. Lạinghe ở nước Xá Vệ có người dâm nữ là Tu Mạn Na, lại nghe ở thành Vương Xá có người dâm nữ tên là Ưu La Bàn Na. Tất cả đều tuyệt sắc. Ngày đêm nhớ nghĩ, mới mộng thấy cùng các nàng đó ân ái. Đến khi tỉnh dậy, nhớ lại mới nghĩ rằng : "Người nữ chẳng tới, ta cũng không đi mà chuyện dâm đã thành đầy đủ."
Nhân đó mà tỏ ngộ tất cả các pháp đều như thế cả do đó đốn chứng duy tâm.
Ôi ! Như ba người ấy đáng gọi là tỏ suốt được sự hư vọng của Tưởng Ấm. Đốn chứng duy tâm chẳng phải là đã thấy Tánh Diệu Chân Như sao?

Phần 6

Kinh : Anan, ví như dòng nước chảy xiết, sóng mòi nối nhau, lớp trước lớp sau, không vượt khỏi nhau. Nên biết Hành Ấm lại cũng như thế.
“Anan, tánh chảy như vậy không nhân hư không mà sanh, không nhân nước mà có, cũng không phải tánh nước, cũng không rời hư không và nước. Thật vậy, Anan, nếu nhân hư không mà sanh, thì mười phương hư không vô tận thành ra dòng nước chảy vô tận, thế thì thế giới đều bị chìm đắm cả. Nếu nhân nước mà có, thì dòng chảy ấy bản tánh lẽ ra không phải là nước nữa và hiện nay đã có thể chỉ ra tướng của dòng chảy và tướng của nước khác nhau. Nếu tánh chảy tức là tánh nước, thì khi nước đứng lại, lẽ ra không phải là nước nữa. Nếu tánh chảy rời hư không và nước mà có, thì không thể có cái gì ở ngoài hư không cả, và ở ngoài nước không thể có dòng nước.
“Vậy nên biết rằng : Hành Ấm hư vọng, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên.

Thông rằng : Thức A Đà Na(5) vi tế, tập khí hiện hành như dòng nước chảy xiết, tưởng chừng là đứng yên, gọi là Thức Thứ Tám. Gắn dính cái vọng động vào tánh trong lặng, niệm niệm đổi dời, biến đổi chẳng hề ngừng nghỉ, gọi là Thức Thứ Bảy, đó là Hành Ấm. Hành ấm(6) giống như dòng nước chảy xiết, theo cảnh mà đổi dời. Nhưng cái dòng chảy đó, không phải từ cảnh mà sanh, không phải từ tâm mà sanh, chẳng phải tức là tâm cảnh, chẳng phải lìa ngoài tâm cảnh. Tất cả bởi vì Thức Thứ Bảy ở trong dựa vào Thức Thứ Tám, ngoài thì nương theo Thức Thứ Sáu, vốn không có tự tánh khá được. Đã vô tự tánh, tức là hư vọng vậy.
Nói dòng nước chẳng phải từ hư không sanh ra thì còn dễ hiểu, nhưng nói "Dòng nước chẳng phải từ nước mà có" thì khó biện ra. Cái năng hữu(7) là nước, cái sở hữu(8) là dòng nước chảy. Cũng như cây sanh ra trái, thì trái chẳng phải là cây, rõ ràng có thể chỉ ra là cây khác trái. Thế mà dòng nước chảy và nước, hai tướng ấy không thể riêng ra mà tự có, thì tức là dòng nước không phải do nước mà riêng có, đã rõ ràng vậy. Dòng nước chảy chẳng phải từ là hư không hay nước, nghĩa là không phải nhân duyên. Chẳng lìa ngoài hư không và nước, tức chẳng phải tự nhiên. Chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tự nhiên thì đương nhiên là hư vọng. Thấu suốt được là hư vọng, hiện giờ vốn tự vô sanh, đó là Tánh Diệu Chân Như.
Kinh Lăng Già nói "Có tướng thì sanh chấp ngại, có tưởng thì sanh vọng tưởng, Sự trôi chảy (lưu chú) sanh thìtheo vọng mà trôi lăn. Nếu đến được Vô Công Dụng Địa thì vẫn còn trong tướng lưu chú. Cần phải vượt ra đượ cái sanh tướng lưu chú thứ ba, mới là tự tại khoái hoạt"
Có vị tăng hỏi Tổ Triệu Châu : "Trẻ nhỏ sơ sanh có đủ sáu thức hay không ?"
Tổ Châu nói : "Trên dòng nước xiết, đánh cầu."
Vị tăng lại hỏi Tổ Đầu Tử : "Trên dòng nước xiết đánh cầu, ý chỉ thế nào ?"
Tổ Đầu Tử đáp : "Niệm niệm chẳng dừng."
Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :
"Sáu thức vô công, hỏi một câu
Tác gia(9) chung sức biện mối đầu
Mênh mông chảy xiết: cầu vẫn đánh
Chỗ ấy chẳng ngừng, ai biết xem ?"
(Lục thức vô công thân nhất vấn Tác gia tầng vọng biện lai đoan Mang mang cấp xuất đả cầu tử Lạc xứ bất đình thùy giải khán.)
Đây là hoạt cú của Ngài Tuyết Đậu. Thử nói bài tụng đến vào chỗ nào ? Nếu nhìn thấy được mới tin nổi Hành Ấm tức là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh.

Phần 7

E. THU THỨC ẨM
Kinh : Anan, ví như có người lấy bình tần già(10) bịt cả hai lỗ, rồi vác cái bình đầy hư không đi xa ngàn dặm đem cho nước khác. Nên biết rằng Thức Ấm cũng lại như thế.
“Anan, cái hư không ấy không phải đến từ phương kia, cũng không phải nhập vào phương này. Thật vậy, Anan, nếu đến từ phương kia, thì trong cái bình đã đựng hư không đem đi, ở phương kia lẽ ra phải thiếu một bình hư không! Nếu đưa vào phương này thì khi mở miệng bình trút ra, lẽ ra phải thấy hư không ra!
“Vậy, nên biết rằng : Thức Ấm hư vọng, vốn không phải tánh nhân duyên, không phải tánh tự nhiên.

Thông rằng : Bộ Tông Cảnh Lục nói "Nếu chấp là có thức, theo thân mà qua lại, nơi này thức ấm diệt, qua nơi kia thức ấm sanh thì cũng giống như đem hư không của xứ này qua cho xứ khác ở xa. Nếu ở nơi này thức ấm thật diệt mất, thì chỗ này phải thiếu hư không. Nếu ở nơi kia thức ấm lại sanh ra, thì khi mở nắp đổ bình, phải thấy hư không chảy ra. Bởi thế nền biết rằng : hư không bất động, thức không đến-đi, thức ấm là hư vọng vậy.
Tổ Ôn Lăng nói : "Cái Tánh Không Chơn Giác cùng khắp pháp giới một khi đã mê thì là thức, thức cũng như hư không ở trong bình. Trong ngoài đều là một hư không : ví dụ cho tánh và thức vốn là một thể. Bịt cả hai đầu : ví dụ cho hư vọng phân ra là đồng, là khác. Hư không không có sự đến-đi: ví dụ cho tánh không có sanh, không có diệt. Cái bình: ví dụ cho cái nghiệp hư vọng. Hư không trong bình: ví dụ cho thức hư vọng. Nghiệp mang thức đi, như cái bình mang hư không. Đi qua nước khác : ví dụ cho sự luân chuyển hư vọng trong sáu nẻo luân hồi."
Kinh Pháp Cú nói : "Cái tinh thần ở trong hình hài như con chim sẻ nhốt trong bình. Binh vỡ thì chim bay mất
Cái bình tần già này cũng giống như hình hài, hai y giống nhau.
Quan Đại Phu Lục Tuyên hỏi Tổ Nam Tuyền : "Người xưa có nuôi trong bình một con chim, dần dần lớn lên, không ra khỏi bình được, Nay nếu không được hủy bình, không được làm hư hao chim, làm sao ra được ?"
Tổ Nam Tuyền kêu lớn : "Đại Phu !"
Ông Lục Tuyên ứng tiếng dạ.
Tổ Tuyền nói: "Ra rồi vậy."
Ông Lục Tuyên do chỗ đó mở tỏ, bèn lạy tạ.
Một hôm, lại hỏi Tổ Nam Tuyền : "Đệ tử theo Lục Hợp mà đến, trong ấy lại còn có thân chăng ?"
Tổ Tuyền nói: "Phân minh nhớ giừ, cử động tựa chủ nhân."
Ông Lục Tuyên nói : "Hòa thượng thật không thể nghĩ bàn, đến chỗ nào thế giới thành tựu chỗ đổ."
Tổ Tuyền nói : 'Thật ra, đều là chuyện của phần ôngđó!"
Hòa thượng Báo Ân Minh hỏi hai vị thiền khách : "Thủ tòa vừa rời chỗ nào ?"
Đáp : "Kinh đô."
Tổ Minh nói : "Thượng tọa rời kinh đô đến núi này, thì kinh đô thiếu Thượng tọa mà núi này dư Thượng tọa ! Dư tức là ngoài tâm có pháp ; thiếu thì tâm, pháp chẳng cùng khắp ! Nói được lý đạo thì nên ở, chẳng hiểu thì nên đi" Hai vị này không đáp được.
Như Thiền sư Thiên Y Hoài, chỗ thấy tự rành rẽ. Tổ Thiên Y dến ngọn núi Sam, được mời vào chùa, thượng đường nói : "Suốt hai mươi năm mến mộ núi này, hôm nay mừng đã đến được, quả là đầy đủ nhân duyên. Sơn tăng chưa đến núi này mà thân đã đến trước. Kịp tới khi đến đây, thì núi Sam đã ở trong thân của sơn tăng."
Ở chỗ này mà mỗi mỗi đều thấu triệt, mới tin thức ấm là hư vọng, vốn chẳng hề có đến, có đi. Như bọt nước sanh ra, diệt mất, không lìa ngoài biển cả. Bọt nước là biển cả, thì thức lại chẳng phải là Tánh Diệu Chân Như đó ư ?