QUYỂN I: ĐẠI PHẬT ĐẢNH, NHƯ LAI MẬT NHÂN, TU CHỨNG LIỄU NGHĨA, CHƯ BỒ TÁT VẠN HẠNH, KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
21/11/2016
Đời Đường, Ngài Bát Lạt Mật Đế, Sa môn xứ Thiên Trúc, dịch; Ngài Di Già Thích Ca, Sa môn xứ Ô Trường, dịch ngữ. Trần Chánh Nghị Đại Phu Phòng Dung, Bồ tát giới đệ tử chép. Đời Minh, Bồ tát giới đệ tử Tiền Phụng Huấn Đại...

Đời Đường, Ngài Bát Lạt Mật Đế, Sa môn xứ Thiên Trúc, dịch; Ngài Di Già Thích Ca, Sa môn xứ Ô Trường, dịch ngữ. Trần Chánh Nghị Đại Phu Phòng Dung, Bồ tát giới đệ tử chép.
Đời Minh, Bồ tát giới đệ tử Tiền Phụng Huấn Đại Phu, Lễ Bộ Từ Tế Thanh Sử Tư Viên Ngoại Lang, Nam Nhạc Tăng Phụng Nghi, Tông Thông.
Thông rằng : Kinh này tại sao lại đặt tên là "Đại Phật Đảnh, Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm ?" Kinh chép : "Khi ấy, Đức Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử từ trong đại chúng, rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ chân Phật mà thưa rằng : Phải gọi kinh này tên gì ? Tôi cùng với chúng sanh làm thế nào phụng trì ?"
Phật dạy Ngài Văn Thù sư Lợi rằng : "Kinh này tên Đại Phật Đảnh, Tát Đát Đa Bát Đát Ra (Bạch Tán Cái), ấn báu vô thượng, Hải Nhãn trong sạch của mười phương Như Lai. Cũng gọi là cứu hộ người thân, độ thoát Anan và Tánh Tỳ kheo ni ở trong hội này, đắc tâm Bồ Đề, bước vào biển Biến Trí. Cũng gọi là "Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa." Cũng gọi là "Đại Phương Quảng, Diệu Liên Hoa Vương, Thập Phương Phật Mẫu Đà La Ni chú." Cũng gọi là "Quán Đảnh Chương Cú, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm." Ông nên thọ trì."
Đoạn kinh trên gồm nhiều nghĩa, chỉ cần ba chữ "Đại Phật Đảnh" là bao gồm hết. Bởi vì Phật Đảnh thần chú, tức là mườỉ phương Phật Mẫu Đà La Ni chú, tức là Quán Đảnh Chương Cú, tức là độ thoát Anan và Tỳ Kheo Ni Tánh, do đó khởi lập lại. Chú này là "Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra", dịch là "Đại Bạch Tán Cái", là cái Lọng Trắng Lớn Che Trùm. Ròng trắng phau trong sạch, trùm che hết thảy, nên gọi là lớn. Đại Phật Đảnh thần chú này, chẳng thể nghĩ bàn, mới gọi là Nhân Địa Bí Mật(1) của Như Lai, cái Liễu Nghĩa của Tu Chứng. Vạn Hạnh của Bồ tát do đây mà sẵn đủ, nên cả thảy rốt ráo bền chắc vậy. Pháp có thể tiệm mà không thể đốn, thì không thể gọi là Đại. Có thể đốn mà không thể viên, thì cũng không gọi là Đại (lớn) được. Nay nói là Mật, là Liễu, tức là đã gồm nghĩa đốn. Nói là Tu Chứng, nói là Vạn Hạnh là ngầm nghĩa Viên. Duy cái pháp môn Viên Đốn này, cùng với Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh và Diệu Pháp liên Hoa Kinh, không khác. Từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng cho đến Diệu Giác là đã bao gồm trong Hoa Nghiêm ; còn Nhĩ Căn Viên Thông trọn cùng phẩm Phổ Môn tương ứng. Gồm đủ chỉ thú của hai bộ kinh trên, kinh Lăng Nghiêm thật rộng lớn biết bao!
Chưa ngộ, thì chuyển cái chẳng có sanh diệt thành ra cái sanh diệt, tức chẳng phải liễu nghĩa. Ngộ rồi, thì chuyển cái sanh diệt thành ra cái chẳng có sanh diệt, tức là nghĩa "hết thảy rốt ráo kiên cố'". Cho nên, một đường đi lên,(3) không ngộ thì không được. Thế thì chú và ngộ liên quan thế nào, ngộ và chú quan hệ với nhau ra sao, mà đều cũng gọi là Đại Phật Đảnh ? Chú không thể nghĩ bàn, ngộ cũng không thể nghĩ bàn. Chú tức là cảnh giới của ngộ, ngộ tức là cảnh giới của chú. Đây là chỗ "Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ tuyệt", thấy do lìa cái thấy, thì cái thấy là siêu việt. Cho nên giữ cái Phật Đảnh, lìa cái tướng thấy của mình là vậy. Các dòng giống của Phật Đảnh, một phen vượt lên nhập thẳng vào, đó là pháp môn cực tôn cực quý vậy. Hiệp Luận đặt tên là Tôn Đảnh vì lẽ này.
Có vị tăng hỏi Ngài Hoàng Bá rằng : "Vô Biên Thân Bồ tát (1)(Tên khác của Đức Như Lai) vì sao chẳng thấy đảnh tướng của Như Lai?"
Ngài Bá đáp : "Thật không thể thấy. Vì sao thế ? Vô Biên Thân Bồ tát tức là Như Lai, không thể trở lại thấy. Chỉ cần ông không tạo ra cái Phật kiến thì không rơi vào Phật biên. Không tạo ra cái thấy chúng sanh thì không lạc vào giới hạn chúng sanh. Không gây ra cái thấy có thì không lạc vào giới hạn của cái có. Không tạo ra cái thấy không thì không rơi vào giới hạn của cái không. Không tạo ra cái thấy của phàm phu thì không rơi vào giới hạn của phàm phu. Không tạo ra cái thấy của Thánh thì không rơi vào giới hạn của Thánh. Chỉ không tất cả mọi cái thấy, tức là Vô Biên Thân. Nếu có chỗ thấy, tức là ngoại đạo. Ngoại đạo thì ham các cái thấy. Bồ tát nơi mọi cái thấy mà chẳng động. Như Lai là nghĩa Như của tất cả các pháp, nên nói "Di Lặc cũng là Như"(2)(Kinh Duy Ma Cật.) Như tức là không có sanh ra, Như tức là không có diệt mất. Như tức là không có thấy, Như tức là không có nghe. Đảnh tức là viên (tròn), cũng không có cái thấy viên, nên chẳng rơi vào biên giới của viên. Bởi thế, thân Phật là vô vi, không rơi vào giới hạn. Tạm lấy hư không làm ví dụ. Tròn đầy như hư không rộng lớn, không thiếu không dư. Hãy nhàn nhã vô sự, chớ gắng gượng biện biệt cảnh giới giác ngộ, biện biệt thì thành thức"
Lại có vị tăng hỏi Tổ Bách Trượng : "Bồ tát Vô Biên Thân không thấy đảnh tướng của Như Lai là vì sao ?"
Tổ Trượng rằng "Vì gây ra cái thấy hữu biên, cái thấy vô biên, nên chẳng thấy được đảnh tướng Như Lai. Chỉ như bây giờ đây trọn không có cả thảy cái thấy hữu vô, cũng không phải là không có cái thấy, thì đó là thấy đảnh tướng."
Xem hai vị Tôn túc nói ra nghĩa Phật Đảnh, thật như viên ngọc tròn lăn trên bàn. Nếu biết chỗ ấy mới cho là trên cửa đảnh, có được con mắt lẻ.(1)(Nhất chích nhãn: một con mắt, con mắt Đạo). Đã nói là Như Lai Mật Nhân, tức chẳng cậy mượn sự tu chứng. Lại nói tu chứng liễu nghĩa (2) (Tu cho chứng dược nghĩa rốt ráo) là để phân biệt với chẳng có liễu nghĩa (3) (Chưa được chỗ hiểu nghĩa Như Lai Mật Nhân) vậy. Như Lai, ấy là nói về quả vậy. Kinh Kim Cang : "Nếu có người nói "Như Lai có đến, có đi, có ngồi, có nằm", thì người ấy chẳng hiểu nghĩa chỗ ta nói. Vì sao thế ? Như Lai là không từ chỗ nào đến, cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai". "Đến không từ chỗ nào, đi không về đâu", quả là vật gì ? Thế mới gọi là mật vậy. Phật Đảnh Thần Chú là mật ngữ của Như Lai, thì hai cái mật (mật ngữ và Như Lai) đó không phải là hai. Lấy cái mật này làm nhân, tức lấy cái mật ấy đắc quả. Như đóa bông sen, nhân quả đồng thời sẵn đủ. Dùng cái này mà tu, thì tu mà không tu. Dùng cái này để chứng, thì chứng mà không chứng. Kinh nói "Nào mượn sự cực nhọc tu chứng", đây tức là ý chỉ của Liễu Nghĩa. Nếu không được như thế là vì chưa liễu ngộ vậy.
Xưa, Huệ Minh đuổi kịp Đức Lục Tổ để dành y bát.
Tổ dạy: "Ông đã vì pháp mà đến, hãy an dừng các duyên, không sanh một niệm, ta sẽ vì ông mà nói."
Ông Huệ Minh im lặng hồi lâu, Tổ nói: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay khi ấy, là Bản Lai Diện Mục của Minh Thượng tọa."
Ông Huệ Minh nghe xong, đại ngộ.
Lại hỏi: "Ngoài lời mật, ý mật ấy, còn cái ý mật nào không
Tổ đáp : "Đã nói cùng ông, tức chẳng phải mật. Nếu ông soi trở lại, thì mật ở tại bên ông."
Thầy Minh thưa: "Tôi mặc dầu ở Huỳnh Mai, mà thật chưa tỏ ngộ được mặt mũi của mình. Nay nhờ ơn chỉ bày, như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Nay hành giả tức là thầy của tôi vậy."
Tổ dạy: "Ông đã như vậy, thì nay tôi và ông cùng một Thầy Huỳnh Mai. Hãy khéo tự hộ trì."
Ngài Hoài Nhượng ban đầu ra mắt Tung Sơn An Thiền sư, hỏi: "Thế nào là ý Tổ Sư từ phương Tây đến ?"
Tổ An nói : "Sao không hỏi cái ý của chính ông ?"
Ngài bèn hỏi : "Thế nào là ý của chính mình ?"
Tổ Sơn đáp: "Cần quán xét cái mật nhiệm tạo nên cái dụng."
Hỏi: "Như thế nào là cái mật nhiêm tạo nên cái dụng ?"
Tổ Sơn dùng mắt mở, nhắm chỉ bày đó.
Sư Nhượng không lãnh hội được. Tổ Sơn bèn bảo ngài ra mắt Đức Lục Tổ.
Tổ hỏi : "Từ đâu đến ?"
Sư Nhượng đáp : "Tung Sơn."
Tổ hỏi: "Vật gì đó ? Đến thế nào ?"
Sư chẳng đáp được.
Trải qua tám năm, mới bạch với Tổ rằng: "Tôi đã có chỗ am hiểu."
Tổ hỏi : "Như thế nào ?"
Ngài đáp : "Nói giống như một vật là chẳng trúng!"
Tổ hỏi : "Lại có thể tu chứng chăng ?"
Đáp rằng : "Tu chứng thì chẳng phải là không, mà ô nhiễm thì chẳng thể được."
Tổ rằng : "Hay lắm ! Cái chẳng có ô nhiễm ấy, là chỗ hộ niệm của chư Phật. Ông đã y vậy, ta cũng y vậy."
Như hai vị Tôn túc ấy, khế hợp sâu xa cái mật ý, được tu chứng liễu nghĩa vậy.
Sau, có vị sư hỏi Tổ Bách Trượng: "Trước đến giờ, chư Tổ đều có mật ngữ trao truyền cho nhau là thế nào ?"
Tổ đáp: "Không có lời mật. Như Lai không có bí mật tạng. Chỉ như bây giờ soi tỏ ý nghĩa cho rõ ràng, tìm kiếm hình tướng, rõ là bất khả đắc, đó là mật ngữ. Từ bậc Tu Đà Hoàn (Nhập Lưu) trở lên cho đến Thập Địa, bất quá chỉ có Chữ và Lời (Ngữ Cú), còn là thuộc về pháp trần cấu hết thảy. Chỉ có lời nói, còn trọn cả đều nằm trong phiền não. Chỉ có lời nói, còn trọn cả đều thuộc về bất liễu nghĩa. Chỉ có lời nói, tức chẳng được chấp nhận vậy. Liễu nghĩa giáo đều chẳng phải là gì hết thảy (phi), thì còn tìm kiếm mật ngữ nào ?"
Theo chỗ thấy của Tổ Bách Trượng, thì một chữ mật cũng phải mửa ra luôn, liễu nghĩa giáo cũng chẳng lập, mới có thể gọi là hướng lên ngàn Phật đảnh mà đi.
Các vị Bồ tát muôn hạnh chưa lìa tu chứng thì sao lại gọi là "Hết thảy rốt ráo kiên cố" ?" Sở dĩ như vậy vì các Bồ tát chưa tới địa vị quán đảnh, phải có tu, có chứng. Đến địa vị quán đảnh rồi, tức là siêu nhập đồng đẳng bậc Diệu Giác, thì có cái gì tu chứng ? Các hành tuy vô thường, nhưng từ trong Diệu Giác lưu xuất ra tất cả sự pháp, đương xứ tịch diệt, nên gọi là rối ráo kiên cố.
Kinh nói "Có cái Tam Ma Địa(4) (Chánh Định), gọi là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, sẵn đủ muôn hạnh. Mười phương Như Lai do một cửa này mà siêu xuất, đây là con đường Diệu Trang Nghiêm." Tam Ma Đề này là Đại Định Thủ Lăng Nghiêm, lối Diệu Trang Nghiêm sẵn đủ muôn hạnh, chẳng phải rời lìa muôn hạnh mà riêng có cái gọi là định. Tất cả đều định, nên gọi là tất cả sự rối ráo kiên cô'. Đức Phó Đại sĩ, ngày thì kinh doanh gây tạo, đêm thì hành đạo. Thấy Đức Thích Ca, Đức Kim Túc, Đức Định Quang ba vị Phật phóng quang phủ lên mình Ngài. Đại sĩ mới nói : "Ta được Định Thủ Lăng Nghiêm." Thuở đó, kinh này chưa đến mà tên định đã nêu, lạ lùng thay.
Tứ Tổ Đạo Tín(5) dạy Ngài Lại Dung ở núi Ngưu Đầu rằng : "Trăm ngàn pháp môn đều quy về tâm, hằng sa diệu đức gồm tại nguồn tâm. Tất cả giới môn, định môn, huệ môn, thần thông biến hóa đều tự sẵn đủ, chẳng rời tâm ông. Hết thảy phiền não, nghiệp chướng xưa nay rỗng rang vắng lặng. Hết thảy nhân quả đều như mộng huyễn. Chẳng có ba cõi để lìa, không có Bồ Đề nào để tìm cầu. Người cùng chẳng phải người, tánh tướng bình đẳng. Đại đạo rỗng suốt, tuyệt nghĩ, tuyệt lo. Cái pháp như thế, ông nay đã được, tuyệt không thiếu hụt, cùng Phật không khác, nào có pháp nào khác nữa. Ông chỉ mặc dùng tự tại, chớ khởi quán hạnh, cũng chẳng lóng tâm, chẳng khởi tham sân, chẳng giữ lo buồn, thênh thang vô ngại, mặc ý dọc ngang. Chẳng làm các điều thiện, không gây các điều ác. Đi, đứng, nằm, ngồi, chạm mắt gặp duyên, thảy đều là diệu dụng của Phật. Vui sướng không lo nên gọi là Phật."
Được nghe thế, Ngài Lại Dung mở ra một chi phái, gọi là Quán Đảnh Chương Cú.
Ngài Pháp Nhãn dạy: "Tu hành trải qua ba đời sáu chục kiếp, bốn đời một trăm kiếp hay tăng kỳ kiếp cho đến thành quả mà cổ nhân còn nói là chẳng bằng một niệm duyên khởi Vô Sanh, siêu quá hàng Tam thừa quyền học." Nên chi nói rằng: Gảy móng tay mà viên thành tám vạn pháp môn, trong sát na dứt hết ba a tăng kỳ kiếp. Trong Thiền tông quả có chuyện kỳ đặc đó, há phải vạn hạnh đầy đủ, rồi sau mới đắc định Thủ Lăng Nghiêm ư ?
Kinh là thường đạo vậy. Cuốn Thuyết Văn Giải Tự viết : "Dệt vải có sợi dọc (kinh), sợi ngang (vĩ) : sợi dọc thì thường hằng, mà sợi ngang thì thay đổi. Kinh này do Ngài Long Thọ ở dưới Long Cung mặc tụng đem lên. Vua Ngũ Thiên(6) trân trọng giữ kín chẳng có truyền ra. Há chẳng biết rằng quyển kinh này người người sẵn có, đâu có ai không ! Thế mới là thường, đạo, nào phải là bí mật."
Có vị tăng hỏi Ngài Thủ Sơn : "Tất cả chư Phật đều do kinh này mà có ra. Thế nào là kinh này ?"
Tổ Sơn đáp : "Nói nhỏ ! Nói nhỏ !"
Vị tăng hỏi : "Thọ trì thế nào ?"
Tổ Sơn rằng : "Chẳng nhiễm ô."
Ngài Đầu Tử(7) tụng rằng :
"Nước chảy Côn Luân, núi nổi mây Người đến, tiều ngư chẳng có hay Nếu biết núi cao, sông tràn nước
Ăt chẳng quăng rìu với bỏ dây."
(Thủy xuất Côn Luân, sơn khởi vân Điếu nhân, tiều phụ muội lai nhân Chỉ tri hồng lãng, nham loan khoát Bất khẳng phao ty khí phụ cân.)
Tổ Dược Sơn bình thường không cho người ta xem kinh. Có lần tự Ngài xem kinh. Một vị tăng hỏi : "Hòa thượng bình thường không cho người xem kinh, sao Hòa thượng lại xem ?"
Tổ Sơn rằng : "Ta chỉ cần che mắt."
Vị tăng hỏi: "Tôi bắt chước Hòa thượng được không ?"
Tổ Sơn nói : "Ông muốn xem thì phải suốt qua tấm da trâu(8) đã."
Cho nên, rõ được chỗ che mắt này, thì mới được cái diệu của sự thọ trì. Mà có xuyên thủng mới chẳng nhiễm ô vậy.
TỰA CHUNG
Kinh : Như thế, tôi được nghe, một thời Phật ở Tinh xá Kỳ Hoàn, thành Thất La Phiệt, cùng với chúng Đai Tỳ kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc Vô Lậu(9) Đại A La Hán.
Thông rằng : Tất cả các kinh đều mở đầu bằng "Như thị ngã văn nhất thời." Đây là Đức Anan tuân theo ý chỉ của Đức Phật, kết tập các kinh, trước xướng sáu chữ này, giải tan mọi nghi ngờ. Như thị, như thị ấy là chỉ có thể tự tin lấy, không cần ngôn thuyết. Nếu hiểu được cái pháp như thị, là chỗ phó chúc bí mật của Phật Tổ, tức là những lời lòng vòng sau này, đều là lời cước chú chua thêm vậy.
Có vị tăng vào tham lễ Quốc sư Huệ Trung, sư hỏi: "Làm sự nghiệp gì ?"
Tăng đáp : "Giảng kinh Kim Cang."
Sư hỏi : "Hai chữ đầu hết là cái gì ?"
Đáp : "Như thị."
Sư hỏi : "Đó là cái gì ?"
Tăng không đáp được.
Sư bảo : "Than ôi ! Vậy thì lấy gì mà giảng kinh ?"
Lại còn Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn (10) hỏi một vị Tòa chủ : "Hai chữ Như Thị là tất cả khoa văn, vậy thì bản văn là làm sao ?"
Vị Tòa chủ(11) không đáp được.
Đức Ngũ Vân đáp thay rằng : "Lại chia làm ba đoạn rồi."
Hãy nói chỗ Đức Ngũ Vân mở lời, là khoa văn hay là bản văn ?
Chữ Tỳ Kheo có ba nghĩa : Khất Sĩ ; là Phá Ác ; là Bố Ma (làm cho ma sợ). Chữ A La Hán cũng có ba nghĩa là ứng Cúng ; là Sát Tặc (giết giặc); là Vô Sanh. Đại là để phân với tiểu. Lậu cũng có ba loại: vô minh lậu, dục lậu và hữu lậu.
Kinh nói "Ông thường nghe trong Luật của Ta có ba nghĩa quyết định tu hành, đó là nhiếp tâm làm Giới, do Giới sanh Định, nhờ Định phát Huệ. Đó là ba môn Vô Lậu Học. Cấm răn (Giới) tức là không lọt ra cái ham muốn dâm dục (Dục Lậu), yên tĩnh (Định) ắt không có phiền não (Hữu Lậu), sáng tâm (Huệ) ắt không có vô
minh phiền não." Ba món Vô Lậu này gọi là nghĩa quyết định. Tựa hồ lấy Huệ làm chỗ cực tắc. Nên Đức Động Sơn nói với Ngài Tào Sơn rằng: "Ở thời mạt pháp, người ta phần nhiều là huệ khô khan (Càn Huệ).(12) Để phân biệt thiệt hay giả, thì có ba loại rỉ chảy (sấm lậu) : Một là, Kiến(13) sấm lậu : chưa lìa phàm phu, sa vào trong biển độc. Hai là, Tình sấm lậu : vướng mắc vào thuận nghịch, chỗ thấy không được quân bình. Ba là, Ngữ sâm lậu : cứu xét chỗ huyền diệu mà mất đi tông chỉ, sau trước cơ trí đều mê muội tối tăm, trí dơ lưu chuyển. Đốì với ba loại này, thầy phải nên biết."
Trong cái Càn Huệ, lại chia làm ba thứ này, nếu không có con mắt pháp phân biệt thì không thể chiếu phá. Do đó, bậc A La Hán hồi hướng về Đại thừa, hẳn phải tư duy quán xét lời dạy của Ngài Động Sơn, thì mới đầy đủ cái nghĩa Vô Lậu vậy.
Kinh : Các vị Phật Tử trụ trì, khéo vượt lên các hữu. Ở các quốc độ, thành tựu uy nghi. Theo Phật chuyển pháp luân, kham lãnh xứng đáng di chúc của Phật. Nghiêm tịnh giới luật để mở rộng khuôn phép cho ba cõi. Hiện thân vô số, cứu thoát chúng sanh, tột đời vị lai, khỏi các trần ràng buộc.
Thông rằng : Trụ Trì là cái Giác Tánh Thường Trụ (hằng còn), hay nắm giữ (trì) vạn pháp. Đoạn kinh này chỉ mười mấy chữ, thật bao quát hết ý chỉ của cả bộ kinh. Nói rằng "Khéo vượt lên các hữu", tức là ngũ ấm, lục nhập, mười hai xứ, mười tám giới, cho đến bảy đại đều chẳng có thể làm chướng ngại, thì nghĩa "Phá vọng" đã đầy đủ hết. Nói rằng "Thành tựu uy nghi", tức là dựng lập đạo tràng, ba món tiệm thứ. Năm mươi lăm địa vị, tức là con đường Bồ Đề, thì nghĩa "Hiển chơn" đã đầy đủ. Nói rằng "Diệu kham di chúc" thì hai mươi lăm pháp môn viên thông đều chứng Tự Tánh, đồng kham thọ ký thành Phật, mà cái tông chỉ "Kiến Tánh" tự còn. Nói rằng "Mở rộng khuôn phép trong ba cõi", thì bộ kinh này phù trì giới luật, dặn dò cẩn thận bốn cấm giới, thập thiện và chín loại định để nêu rõ quy tắc cho ba cõi. Ngài Anan thị hiện dâm sự để mở đầu bộ kinh là cũng vì vậy. Nói "Ứng thân vô lượng", là dạy các vị Bồ tát và A La Hán hiện thân trong đời mạt pháp, hóa làm đủ thứ hình dạng, cứu vớt các chúng sanh luân hồi vậy. Vì phòng ngừa cho chúng sanh đời mạt pháp khỏi các ma sự, "Siêu khởi các trần ràng buộc", chứng đến chỗ viên thông. Thật là lời dặn dò khuôn mẫu sau chót của Như Lai vậy.
Ngài Phong Huyệt Chiểu Thiền sư có lời dạy rằng : "Nếu lập một mảy trần,(14) dẫu nước nhà dang hưng thịnh, lão quê này cũng buồn rầu. Không lập một mảy trần, dẫu nước nhà sụp đổ, lão quê này cũng vui ca."
Ngài Tuyết Đậu dựng cây trụ trượng lên mà nói: "Lại còn có vị tăng cùng sống cùng chết nào không ?", ý chỗ lập trần là ở đó.
Tụng rằng:
"Lão tăng dạy dỗ chẳng nhướng mày
Mong cho nhà nước vững nền ngay
Mưu thần dũng tướng giờ đâu tá
Vạn dặm gió trong, chỉ tự hay."
Ngài Tuyết Đậu ở trong cửa Phật sự, chẳng bỏ một pháp. Ngài Thiên Đồng ở nơi thực tướng chẳng thọ một mảy trần. Hai pháp song hành bình đẳng, cùng một chỗ xuất ra.
Tụng rằng :
"Sông Vị trắng trong thả nhợ câu
Nào giống Di Tề chết đói đâu
Chỉ tại mảy trần sanh lắm vẻ
Nghiệp tốt, danh cao, khó bỏ thay."
Lại còn Tổ Trường Khánh nói rằng : "Mọi chuyện giống như ngày nay là bởi Lão Hồ(15) có chỗ cho người ta ngưỡng vọng."
Tổ Bửu Phước nói : "Mọi sự giống như ngày nay là vì Lão Hồ tuyệt hết mọi chỗ cho người ta ngưỡng vọng."
Ngài Thiên Đồng dạy thêm: "Giàu, ngàn miệng ăn vẫn cho là ít. Nghèo, một thân này vẫn hận là nhiều."
Xét chỗ khai thị của các vị Tôn túc, tất cả đều vì người, nào có khác với tâm cứu độ chúng sanh đời sau của Phật Tổ. Nên sao chép lại để làm cái pháp Trụ Trì.(16)
Kinh: Các vị là: Đại Trí Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà làm Thượng thủ. Lại có vô số các vị Bích Chi Vô Học và sơ tâm đồng đến chỗ Phật giảng đạo. Nhằm ngày các vị Tỳ kheo mãn hạ Tự Tứ, các vị Bồ tát từ mười phương đến, xin Phật giải quyết nghi hoặc, kính vâng Đức Từ Nghiêm, thỉnh cầu nghĩa thâm mật.
Đức Như Lai trải pháp tọa, ngồi khoan thai, vì cả pháp hội mà tỏ bày cái mật nhiệm sâu xa. Chúng hội trong sạch, được việc chưa từng có.
Thông rằng : Đây là nói về chỗ bắt đầu của kinh. Nói là các vị Bồ tát thỉnh cầu mật nghĩa, mà chẳng có nói cái gì là mật. Nói Đức Phật tỏ bày cái thâm áo, mà chẳng nói cái gì là thâm áo, thì làm sao chúng hội thanh tịnh lại được chỗ chưa từng có ?
Xưa, Đức Thế Tôn một hôm lên tòa pháp. Đức Văn Thù bạch chùy rằng : "Hãy xem rõ Pháp vương pháp. Pháp Vương pháp như thế." (17)
Đức Thế Tôn bèn xuống pháp tòa.
Tổ Thiên Đồng tụng :
"Một đoạn của nhà có thây không
Miên man trời đất chạy thoi nhanh
Gấm cổ dệt thành, bao xuân sắc
Ngại gì tiết lộ bởi Đông Quân."(18)
Ngài Tuyết Đậu tụng rằng:
"Thánh chúng đương nhiên ắt hiểu ngay
Pháp Vương, pháp lệnh chẳng như đây
Hội này mà có Thiền gia khách
Văn Thù nào phải hạ một chùy."
Nếu đối với chỗ Đức Thế Tôn lên tòa yên ngồi mà đã rõ thông tin tức, mới thật diệu khế cái áo mật, mà chẳng cần nhờ đến lời lẽ phiền phức vậy.
Hàng Bích Chi, còn có hạng sơ phát tâm là học trò của hàng Bích Chi.
"Hưu Hạ Tự Tứ" là trong Luật có dạy ba ngày ra Hạ là Mười Bốn, Mười Lăm và Mười Sáu tháng Bảy .
Kinh : Tiếng của Phật hòa nhã như tiếng chim Ca Lăng Tần Già, vang khắp mười phương. Hằng sa Bồ tát đến chốn đạo tràng, có Ngài Văn Thù Sư Lợi làm Thượng thủ.
Thông rằng : Chim Ca Lăng Tần Già khi còn trong trứng đã đủ tiếng hay, các loài chim khác không so sánh kịp. Thí dụ cho Đôn Giáo vào ngay dòng giống Phật, không cần mượn tu tập, Tam thừa không bì kịp. Phật dùng âm thanh này để dạy cho hàng căn cơ đốn ngộ. Thuở xưa, có lần Ngài Mục Kiền Liên muốn cùng tột âm thanh của Phật, dùng hết thần lực, đi qua hằng sa cõi, đến một cõi Phật có Báo Thân rất lớn. Ngài chống trượng đi trên miệng bát cơm của chư vị cõi đó. Các đệ tử ở đấy đều thưa với Đức Phật cõi đó : "Tại sao lại có loại trùng giống hệt con người ?"
Đức Phật kia đáp: "Đó là Mục Kiền Liên, đệ tử của Phật Thích Ca ở cõi Ta Bà. Chớ thấy hình vóc nhỏ nhoi mà xem thường !" Rồi Đức Phật hỏi Ngài Mục Kiền Liên đến đây làm gì.
Ngài trả lời là muốn cùng tột âm thanh của Phật.
Đức Phật dạy: "Âm thanh của Phật vô tận, ông không thể cùng tột được đâu."
Ngài Mục Kiền Liên bèn trở về.
Nên nói "Khắp hết mười phương" là đúng vậy.
Hằng sa Bồ tát mỗi mỗi đều có chỗ ở, như những cõi kể trong kinh Hoa Nghiêm, vũ trụ vô cùng, chỗ nào mà chẳng phải là trụ xứ của Bồ tát ? Nay nghe âm thanh Phật, các Bồ tát đi đến với Phật.
Văn Thù tức là Diệu Đức, để bày tỏ cái thiệt trí. Mở bày đốn giáo thì đúng là cơ của Ngài, nên Ngài làm Thượng thủ.
Xưa, Ngài Vô Trước Văn Hỷ Thiền sư đến động Kim Cương ở núi Ngũ Đài chiêm bái Đức Văn Thù. Ngài gặp một ông già đang dắt trâu đi và mời Ngài vào chùa.
Ông già gọi : "Sa di!" Thì có một đồng tử ứng tiếng dạ, chạy ra tiếp. Ông già thả trâu đi, dắt thiền sư lên nhà khách. Nhà cửa đều chói lọi ánh vàng. Ông già ngồi lên giường, chỉ một cái đôn gấm mời Ngài ngồi.
Ông nói: "Ông từ đâu tới ?"
Sư Văn Hỷ đáp. ? "Phương Nam,"
Ông hỏi: "Phật pháp ở phương Nam trụ trì thế nào ?"
Sư đáp: "Đời mạt pháp các Tỳ kheo ít phụng trì giới luật"
Ông hỏi: "Chúng nhiều ít ?"
Sư đáp: "Hoặc ba trăm, hoặc năm trăm."
Sư Văn Hỷ trở lại hỏi: "Phật pháp ở đây trụ trì thế nào ?"
Ông già trả lời : "Rồng rắn lẫn lộn, phàm thánh ở chung."
Sư hỏi; ‘"Chúng nhiều ít ?"
Ông đáp: "Trước ba ba, sau ba ba."(19) Ông kêu đồng tử đem trà và váng sữa(20) lại. Sư dùng xong, tâm ý thông suốt.
Ông già cầm chén pha lê lên hỏi: "Phương Nam có thứ này không ?"
Sư đáp: "Không có."
Ông hỏi: "Bình thường lấy gì uống trà ?"
Sư không đáp được.
(Tiếc thay ! Đang khi ấy chỉ nên đập nát nghiến cái chén pha lê !)
Văn Hỷ thấy trời đã tối, bèn hỏi ông ở lại một đêm được chăng.
Ông già nói: "Ông còn cái tâm chấp không thể ở lại"
Sư nói : "Tôi đâu có tâm câu chấp."
Ông già hỏi : "Ông đã thọ giới chưa ?"
Sư đáp : "Thọ giới đã lâu."
Ông già nói : "Nếu không có cái tâm chấp, thì thọ giới để làm gì ?"
Sư cáo từ. Ông già bảo đồng tử tiễn Ngài về.
Ngài hỏi đồng tử ! "Trước ba ba, sau ba ba là nhiều ít ?"
Đồng tử gọi lớn : "Đại đức !"
Sư ứng tiếng dạ.
Đồng tử nói : "Đó là nhiều ít ?"
Sư Hỷ lại hỏi : "Đây là chỗ nào ?"
Đáp rằng: "Đây là động Kim Cương, chùa Bát Nhã."
Sư Văn Hỷ mới tỉnh ngộ ra rằng ông già tức là Văn Thù vậy. Không thể ra mắt trở lại được nữa, bèn cúi đầu trước đồng tử, xin một lời nói để từ biệt.
Đồng tử đọc bài kệ :
"Trên mặt không sân : đồ cúng dường
Trong miệng không sân : xuất diệu hương
Trong tâm không sân là châu báu
Không dơ, không nhiễm tức chân thường."
Nói xong, cả người lẫn chùa đều ẩn mất.
Thầy Hỷ sau tham học với Tổ Ngưỡng Sơn, chóng ngộ tâm khế, giữ chức Điển tòa.(21) Khi nấu ăn, Đức Văn Thù thường hiện hình trên nồi cháo, sư Văn Hỷ lấy cái đũa tre quậy cháo đánh mà nói rằng : “Văn Thù tự mặc Văn Thù. Văn Hỷ tự mặc Văn Hỷ."
Đức Văn Thù bèn nói bài kệ :
"Bầu đắng rễ cũng đắng,
Dưa ngọt tận cuống ngọt
Tu hành ba đại kiếp
Lại bị lão tăng từ (chối)."
Thấu đến trong ấy(22) lại còn nói có tâm câu chấp nữa ư?
Tổ Tuyết Đậu tụng rằng :
"Ngàn đỉnh nhấp nhô một màu lam
Ai là Văn Thù để đối đàm
Nực cười Thanh Lương(23) nhiều ít chúng
Trước ba ba sau cũng ba ba."
Chỗ này mà thấu thoát(24) được mới cho gặp mặt Đức Vãn Thù.
Chú thích:
(1) Như Lai Mật Nhân.
(2) Trọn vẹn, tức thời.
(3) Hướng thượng nhất lộ.
(4) Samadhi. Xưa gọi là Tam Muội.
(5) Đời Đường Cao Tông, nối pháp Tổ Tăng Xán, truyền lại cho Tổ Hoằng Nhẫn.
(6) Ở miền Nam Ấn.
(7) Nghĩa Thanh Thiền sư, đời Đường. Nối pháp Đại Dương Huyền Thiền sư.
(8) Da trâu : ngưu bì. Trùm da trâu đi ra nắng càng bị bó cứng ; buộc râu rồng (long tu) xuống nước càng thắt chặt, đau đớn. Hai cái dùng để chỉ cái phước hữu lậu của người và trời làm hại huệ mạng.
(9) Lậu : tiếng chỉ phiền não.
(10) Tuyết Phong Thiền sư, tên Nghĩa Tồn, người xứ Phước Châu. Đắc pháp nơi Tổ Đức Sơn. Đời Đường Ý Tông, năm Hàm Thông, tại núi
(11)Tuyết Phong xứ Phước Châu sáng lập nhà Thiền. Thường có đến 1.500 người trong chúng học đạo.
(12)Người cầm đầu trong đại chúng. Càn Huệ Địa, địa vị thứ nhất của Thập Địa và Tam Thừa. Cái trí huệ khô khan nên chưa thuần thục. Đại Thừa Nghĩa Chương nói : Tuy có trí huệ, chưa đặng tịnh thủy (tâm tĩnh lặng, ví như nước đứng im). Lại còn về phép quán sự (đôi lý quán nói sự quán) đây chưa xong về lý, chưa thuần tịnh.
(13) Chỗ thấy theo sở học.
(14) Trần : hạt bụi.
(15) Lão Hồ : Chỉ Đức Đạt Mạ.
(16) Còn hoài.
(17) Đế quán Pháp Vương Pháp. Pháp Vương Pháp như thịi
(18) Thần mùa Xuân.
(19) Tiền tam tam, hậu tam tam.
(20) Tô lạc.
(21) Lo về trai tăng trong Thiền viện.
(22) Núi Ngũ Đài.
(23) Giá Lý.
(24) Hiểu thấu suốt.
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
29/11/2016
DUYÊN KHỞI CỦA KINH
Kinh: Khi ấy, vua Ba Tư Nặc nhân ngày kỵ (giỗ) phụ vương, mở tiệc chay mời Phật thọ trai. Tự Ngài đứng nơi cung dịch nghinh rước Đức Như Lai, dọn bày các món ăn quý báu, rồi thân đến rước Phật và các vị Đại Bồ tát. Trong...
21/11/2016
Phần thứ nhất: Phần Tựa - Duyên khởi của kinh Lăng Nghiêm Tông Thông
Đề tựa : Núi Nam Nhạc, Quan Trương Kim Giản tên là Tăng Phụng Nghi, Thuấn Trứng Phụ.(1) Xưa, Ngài Thiên Thai Trí Giả theo học Đạo Thiền sư Huệ Tư ở núi Nam Nhạc, đắc Pháp Hoa Tam Muội, thấy được pháp hội Linh Sơn nghiễm...
