QUYỂN THỨ BẢY PHẨM “PHỔ HIỀN BỒ TÁT KHUYẾN PHÁT” THỨ HAI MƯƠI TÁM
30/11/2015
KINH DIỆU PHÁP IIÊN HOA PHẨM “PHỔ HIỀN BỒ TÁT KHUYẾN PHÁT” THỨ HAI MƯƠI TÁM 1 - Lúc bấy giờ, Ngài Phổ Hiền Bồ-tát dùng sức thần thông tự tại, oai đức danh văn, cùng vô lượng vô biên bất khả xưng sổ chúng Đại Bồ-tát từ ph...

KINH DIỆU PHÁP IIÊN HOA
PHẨM “PHỔ HIỀN BỒ TÁT KHUYẾN PHÁT” THỨ HAI MƯƠI TÁM
Lại cùng vô số các đại chúng: trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhơn, phi nhơn v.v... vây quanh, đều hiện sức oai đức, thần thông, đến cõi Ta-bà, trong núi Kỳ Xà Quật, đầu mặt lạy Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đi quanh bên hữu bảy vòng, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con ở nơi nước của Đức Bảo Oai Đức Thượng vương Phật, xa nghe cõi Ta-bà này nói Kinh Pháp Hoa, nên cùng với vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức chúng Bồ-tát đồng đến để nghe thọ, cúi mong Đức Thế Tôn nên vì chúng con nói đó”.
Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn sau khi Như Lai diệt độ, thế nào mà có thể đặng Kinh Pháp Hoa này?.
2 - Phật bảo Phổ Hiền Bồ-tát rằng: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn thành tựu bổn pháp, thời sau khi Như Lai diệt độ sẽ đặng Kinh Pháp Hoa này: một là được các Đức Phật hộ niệm; hai là trồng các cội công đức; ba là vào trong Chánh định; bốn là phát lòng cứu tất cả chúng sanh".
Thiện nam tử, thiện nữ nhơn thành tựu bốn pháp như thế, sau khi Như Lai diệt độ quyết đặng kinh này,
3 - Lúc đó Ngài Phổ Hiền Bồ-tát bạch Phật rằng: Thế Tôn! Năm trăm năm sau, trong đời ác trược, nếu có người thọ trì kinh điển này, con sẽ giữ gìn, trừ các sự khổ hoạn, làm cho đặng an ổn, khiển không ai đặng tiện lợi rình tìm làm hại; hoặc ma, hoặc con trai của ma, hoặc con gái của ma, hoặc dân ma, hoặc người bị ma dựa, hoặc dạ-xoa, hoặc la-sát, hoặc cưu-bàn-trà hoặc tỳ-xá-xà, hoặc kiết-giá, hoặc phú-đơn-na, hoặc vi-đà-la v.v..., những kẻ làm hại người đều chẳng đặng tiện lợi.
Người đó hoặc đi, hoặc đứng, đọc tụng kinh này, bấy giờ con cưỡi tượng vương trắng sáu ngà, cùng chúng Đại Bồ-tát đều đến chỗ người đó mà tự hiện thân ra để cúng dường, thủ hộ, an ủi tâm người đó, cũng để cúng dường Kinh Pháp Hoa.
Người đó nếu ngồi suy nghĩ kinh này, bấy giờ con lại cưỡi tượng vương trắng hiện ra trước người đó, người đó nếu ở trong Kinh Pháp Hoa có quên mất một câu, một bài kệ, con sẽ dạy đó chung cùng đọc tụng, làm cho thông thuộc.
Bấy giờ người thọ trì, đọc tụng Kinh Pháp Hoa đặng thấy thân con, lòng rất vui mừng, lại càng tinh tấn, do thấy thân con nên liền đặng tam muội và đà-la-ni tên là “Triền đà-la-ni”, trăm nghìn muôn ức “Triền đà-la-ni”, “Pháp âm phương tiện đà-la-ni”, đặng những môn đà-la-ni như thế.
4 - Thế Tôn! Nếu đời sau, sau năm trăm năm trong đời ác trược, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, người cầu tìm, người thọ trì, người đọc tụng, người biên chép, mà muốn tu tập Kinh Pháp Hoa này, thời trong hai mươi mốt ngày, phải một lòng tinh tấn, mãn hai mươi mốt ngày rồi, con sẽ cưỡi tượng trắng sáu ngà, cùng vô lượng Bồ-tát vây quanh, dùng thân mà tất cả chúng sanh ưa thấy, hiện nơi trước người đó để vì nói pháp, chỉ dạy cho lợi ích vui mừng, cũng lại cho chú đà-la-ni.
Đặng chú đà-la-ni này thời không có phi nhơn nào có thể phá hoại được, cũng chẳng bị người nữ làm hoặc loạn. Con cũng đích thân thường hộ người đó. Cúi mong Đức Thế Tôn nghe con nói chú đà-la-ni này, liền ở trước Phật mà nói chú rằng:
“A đàn địa, đàn đà bà địa, đàn đà bà đế, đàn đà cưu xá lệ, đàn đà tu đà lệ, tu đà lệ, tu đà la bà để, Phật đà ba chuyên nể, tát bà đà la ni a bà đa ni, tát bà bà sa a bà đa ni, tu a bà đa ni, tăng già bà lý xoa ni, tăng già niết dà đà ni, a tăng kỳ, tăng già bà dà địa, đế lệ a đọa tăng già đâu lược, a la đế ba la đế, tát bà tăng già địa, tam ma địa, già lan địa, tát bà đạt ma tu ba lợi sát đế, tát bà tát đỏa lâu đà kiêu xá lược, a nâu dà địa, tân a tỳ kiết lợi địa đế”.
Thế Tôn! Nếu có Bồ-tát nào đặng nghe chú đà-la-ni này, phải biết đó là sức thần thông của Phổ Hiền.
5 - Nếu Kinh Pháp Hoa lưu hành trong Diêm-phù-đề có người thọ trì, thời nên nghĩ rằng: Đều là sức oai thần của Phổ Hiền.
Nếu có người thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ chân chánh, hiểu nghĩa thú trong kinh, đúng như lời mà tu hành, phải biết người đó tu hạnh Phổ Hiền, ờ nơi vô lượng vô biên các Đức Phật, sâu trồng cội lành, được các Đức Như Lai lấy tay xoa đầu. Nếu chỉ biên chép, người này khi mạng chung sẽ sanh lên trời Đao Lợi.
Bấy giờ, bốn muôn tám nghìn thiên nữ trỗi các kỹ nhạc mà đến rước đó, người đó liền đội mão bảy báu, ở trong hàng thể nữ vui chơi khoái lạc, huống là thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ chơn chánh, hiểu nghĩa thú kinh, đúng như lời mà tu hành.
Nếu có người nào thọ trì, đọc tụng, giải nghĩa thú kinh này, người đó khi mạng chung được nghìn Đức Phật trao tay, khiến chẳng sợ sệt, chẳng đọa vào đường dữ, liền lên cung trời Đâu Suất, chỗ Di Lặc Bồ-tát, mà sanh vào hàng quyến thuộc trăm nghìn muôn ức thiên nữ, Đức Di Lặc Bồ-tát có ba mươi hai tướng, chúng Đại Bồ-tát cùng nhau vây quanh. Có công đức lợi ích như thế, cho nên người trí phải một lòng tự chép hoặc bảo người chép, thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ chơn chánh, đúng như lời tu hành.
Thế Tôn! Con nay dùng sức thần thông giữ gìn kinh này, sau khi Như Lai diệt độ, làm cho rộng lưu bổ trong Diêm-phù-đề, khiển chẳng dứt mất.
6 - Lúc bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật khen rằng: Hay thay! Hay thay! Phổ Hiền! Ông có thể hộ trợ kinh này làm cho nhiều chúng sanh an vui lợi ích, ông đã thành tựu bất khả tư nghì công đức, lòng từ bi sâu lớn, từ lâu xa đến nay phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà có thể thực hành nguyện thần thông đó đế giữ gìn kinh này
Ta sẽ dùng sức thần thông giữ gìn người hay thọ trì danh hiệu Phổ Hiền Bồ-tát.
Phổ Hiền! Nếu có người thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ, chân chánh tu tập, biên chép Kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó thời là thấy Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, như từ miệng Phật mà nghe kinh điển này. Phải biết người đó cúng dường cho Đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Phải biết người đó được Phật Ngài khen: Lành thay! Phải biết người đó được Đức Thích Ca Mâu Ni Phật lấy tay xoa đầu. Phải biết người đó được Đức Thích Ca Mâu Ni Phật lấy y trùm cho. Người như thế chẳng còn ham ưa sự vui trong đời, chẳng ưa kinh sách viết chép của ngoại đạo, cũng lại chẳng ưa gần gũi ngoại đạo và các kẻ ác, hoặc kẻ hàng thịt, hoặc kẻ nuôi heo, dê, gà, chó, hoặc thợ săn, hoặc kẻ huôn bán sắc gái. Người đó tâm ý ngay thật, có lòng nghĩ nhớ chơn chánh, có sức phước đức. Người đó chẳng bị ba món độc làm não hại, cũng chẳng bị tánh ghen ghét, ngã mạn, tà mạn, tăng thượng mạn làm não hại. Người đó ít muốn biết đủ, có thể tu hạnh Phổ Hiền.
7 - Phổ Hiền! Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người nào thấy người thọ trì, đọc tụng Kinh Pháp Hoa, phải nghĩ rằng: Người này chẳng bao lâu sẽ đến đạo tràng, phá các chúng ma, thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chuyển Pháp luân, đánh Pháp cổ, thổi Pháp loa, rưới Pháp vũ, sẽ ngồi trên Pháp tòa sư tử trong đại chúng trời, người.
Phổ Hiền! Nếu ở đời sau, có người thọ trì đọc tụng kinh đỉển này, người đó chẳng còn lại ham ưa y phục, giường nằm, những vật nuôi sống, chỗ mong cầu chẳng luống, cũng ở trong hiện đời đặng phước báo đó.
Nếu có người khinh chê đó rằng: “Ông là người điên cuồng vậy, luống làm hạnh ấy trọn không đặng lợi ích”. Tội báo như thế sẽ đời đời không mắt. Nếu có người cúng dường khen ngợi đó, sẽ ở trong đời này đặng quả báo hiện tại.
Nếu lại thấy người thọ tri kinh này mà nói bày lỗi quấy của người đó, hoặc thật, hoặc chẳng thật, người này trong hiện đời mắc bịnh bạch lại. Nếu khinh cười người trì kinh sẽ đời đời răng nướu thưa thiếu, môi xấu, mũi xẹp, tay chân cong quẹo, mắt lé, thân thể hôi dơ, ghẻ dữ máu mủ, bụng thũng hơi ngắn, bị các bịnh nặng dữ.
Cho nên Phổ Hiền! Nếu thấy người thọ trì kinh điển này phải đứng dậy xa rước, phải như kính Phật.
8 - Lúc Phật nói phẩm “Phổ Hiền Bồ-tát Khuyến Phát” này, có hằng hà sa vô lượng vô biên Bồ-tát đặng trăm nghìn muôn ức môn “Triền đà-la-ni”, tam thiên đại thiên thế giới vi trần số chư Đại Bồ-tát đủ đạo Phổ Hiền.
Lúc Phật nói kinh này, Phổ Hiền v.v... các vị Bồ-tát, Xá Lợi Phất v.v... các vị Thanh văn và hàng trời, rồng, nhơn, phi nhơn v.v... tất cả đại chúng đều rất vui mừng, thọ trì lời Phật, làm lễ mà đi.
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
QUYỂN THỨ BẢY
Nam-mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ-tát Ma-ha-tát. (3 lần) (0 1
Pháp Hoa Hải hội Đức Phật thân tuyên, ba châu chín dụ nghĩa kín mầu, bảy cuốn gồm bao trùm hơn sáu muôn lời, xướng tụng lợi người, trời.
Nam-mô Pháp Hoa Hải Hội Chư Phật, Chư Đại Bồ-tát, Chư Hiền Thánh Tăng. (3 lần) (3c)
1 - Một câu nhiễm tâm thần
Đều giúp đến bờ kia
Nghĩ suy ròng tu tập
Hẳn dùng làm thuyền bè
Tùy hỷ thấy cùng nghe
Thường làm chủ với bạn
Hoặc lấy hay là bỏ
Qua tai đều thành duyên
Hoặc thuận cùng với nghịch
Trọn nhơn đây được thoát.
Nguyện ngày tôi giải thoát
Y báo cùng chánh báo
Thường tuyên kinh mầu này
Một cõi đến một trần
Đều là vì lợi vật
Cúi mong các Đức Phật
Thầm nhờ hộ trợ cho
Tất cả hàng Bồ-tát
Kín giúp sức oai linh
Nơi nơi chưa nói kinh
Đều vi chúng khuyến thỉnh
Phàm chỗ có nói pháp
Đích thân thờ cúng dường
Một câu cùng một kệ
Tăng tấn đạo Bồ-đề
Một sắc và một hương
Trọn không hề thối chuyển.
2 - Trời, a-tu-la, dạ-xoa thảy
Đến nghe pháp đó nên chí tâm
Ủng hộ Phật pháp, khiến thường còn
Mỗi vị siêng tu lời Phật dạy
Bao nhiêu người nghe, đến chốn này
Hoặc trên đất liền hoặc hư không
Thường dối người đời, sanh lòng từ
Ngày đêm tự mình nương pháp ở
Nguyện các thế giới thường an ổn
Phước trí vô biên lợi quần sanh
Bao nhiêu tội nghiệp thảy tiêu trừ
Xa lìa các khổ về viên tịch.
Hằng dùng giới hương xoa vóc sáng
Thường trì định phục để giúp thân
Hoa mầu Bồ-đề khắp trang nghiêm
Tùy theo chỗ ở thường an lạc.
Nam-mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ-tát. (3 lần) (3 c)
THÍCH NGHĨA
Nhục kế: Trên đầu Đức Phật thịt đùn cao lên như hình búi tóc, là 1 trong 32 tướng tốt cửa thân Phật.Thập hiệu Như Lai: Mỗi vị Phật đều có đủ 10 hiệu này, phải đủ 10 hiệu này mới gọi là Phật. Mười hiệu đó là:
1. Như Lai: Toàn thể như như bất động, tùy duyên hóa độ mà đến trong muôn loài đến trong muôn loài mà vẫn như như bất động.
2. ứng Cúng: Ruộng phước vô lượng, vì lợi quần sanh nên đến thọ sự cúng dường của chín giới.
3. Chánh Biến Tri:. Hiểu biết suốt thấu khắp tất cả pháp một cách chơn chánh, đúng như thật.
4. Minh Hạnh Túc: Minh là trí huệ,
Hạnh là công hạnh lợi mình lợi người.
Trí huệ và công hạnh đều hoàn bị.
5. Thiện Thệ: Khéo qua. Qua Niết-bàn nhưng vẫn thường độ sanh, nhưng vẫn không rời Niết-bàn.
6. Thế Gian Giải: Rành rẽ tất cả pháp của thế gian và xuất thế gian.
7. Vô Thượng Sĩ: Đấng Vô Thượng, không còn ai trên.
8. Điều Ngự Trượng Phu: Bậc trượng phu hay điều hòa, hóa độ chúng sanh nhu hòa
và hay ngự phục hóa độ chúng sanh cang cường.
9. Thiên Nhơn Sư: Thầy của tất cả trời, người v.v...
10. Phật Thế Tôn: Đấng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. “Thế Tôn” là hiệu chung của 10 hiệu trên. Nếu được đủ 10 đức hiệu trên thời là bậc tôn quý của thế gian và xuất thế gian.
3. Na-la-diên: Tức kim cang, một chất rất cứng rắn, không chi phá vỡ được.
4. Sá-môn: Hiệu chung của tất cả người xuất gia.
5. Năm căn: Nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân.
6. Bổn nhơn: Là người chủ, người dùng bùa chú, thuốc độc để hại người khác.
7. Tuôn giá: Tạ thường gọi là mưa đá.
8. Huệ nhựt: Mặt tròi trí huệ, ý nói trí huệ sáng chói như mặt trời.
9. Lòng Bi: Là lòng muốn cứu chúng sanh khỏi khổ, răn trừ các ác độc, như sấm vang làm khiếp vía các tà ma quỷ mị.
Ý Từ: Là muốn chúng sanh được hưởng các sự vui thỏa nên thường đem sự lợi lạc ban cho chúng sanh, như mây rưới mưa, đượm nhuần cỏ cây muôn vật.
Lửa phiền não: Lòng tham, giận, ganh, v.v... làm phiền nhiễu, bứt rứt, khổ não thân tâm người như lửa đốt. Bồ-tát nói pháp diệt trừ những tánh xấu trên đó làm cho thân tâm người thơ thói mát mẻ, như rưới nước cam lồ làm tắt lửa.
11. Họa ép dầu: Người xứ Tây Trúc ép dầu, trước giã nhỏ mè hay đậu v.v... ủ cho sanh trùng rồi sau mới ép. Ép dầu tức là sát hại nhiều trùng nên phải bị ương họa.
12. Bộng cây nổi: Để vi dụ những việc lâu xa khó gặp khó được. Kinh nói: Như trong biển lớn, có khúc cây bông nổi trên mặt nước, 100 năm một lần trôi qua, 100 năm một lần trôi lại; đáy biển có một con rùa đui, 100 năm một lần nổi lên mặt nước đón một bông cây để chui vào. Biển rộng, cây 100 năm mới một lần trôi qua, rùa đã mù mà 1OO năm mới nổi lên một lần, chực chui đặng vào bông cây, khó lắm!
13- Ba đường ác: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
14- Bịnh Bạch lại: Bịnh hủi (da tróc sần sùi, tóc mày đều rụng).
15- Tổng trì: Tức là “Đà-la-ni”.
16. Hải hội: Hội lớn rộng, rất đông như biển, không thể lường biết.
17. Ba châu: 1. Thuyết pháp châu; 2. Thí dụ châu; 3. Nhơn duyên châu. Phụ:
* Bích-chi Phật là vị ra đời không gặp Phật, không gặp Chánh pháp, nhơn thấy sự biến đổi trong đời như hoa héo, lá khô v.v... mà tự ngộ lý Vô thường, dứt kiến tư hoặc, thoát ly sanh tử luân hồi nên gọi là vị “Độc giác”.
* Duyên giác là vị ra đời gặp Phật, gặp Chánh pháp, tu pháp ‘Thập nhị nhơn duyên quán” (xem phẩm “Hóa Thành Dụ” thứ7, quyển thứ ba) mà chứng ngộ Vô sanh, thoát ly sanh tử luân hồi nên gọi là “Duyên giác”.
Hai bậc Độc giác cùng Duyên giác căn cứ quả vị thời ngang với quả vị A-la-hán.
BÁT NHÃ TÂM KINH
MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bát dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng: Bất sanh, bắt diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tì, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo; vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam thế chư Phật, y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu tam-bồ-đề.
Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị Đại thần chú, thị Đại minh chú, thị Vô thượng chú, thị Vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thỉệt bất hư.
Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:
“Yết đế yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề Tát bà ha”. (3 lân) (C)
VÃNG SANH
QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN
Khể thủ Tây phương An Lạc quốc,
Tiếp dẫn chúng sanh Đại Đạo Sư,
Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sanh, Duy nguyện Từ Bi ai nhiếp thọ.
Ngã kim phổ vị tứ ân, tam hữu,
Cập pháp giới chúng sanh, cầu ư chư Phật, Nhứt thừa Vô thượng Bồ-đề đạo cố, Chuyên tâm trì niệm A Di Đà Phật,
Vạn đức hồng danh, kỳ sanh Tịnh độ. Duy nguyện Từ Phụ A Di Đà Phật,
Ai lân nhiếp thọ, từ bi gia hộ.
A Di Đà Phật thân kim sắc,
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân,
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu-di, Hám mục trừng thanh tứ đại hải. Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ-tát chứng diệc vô biên,
Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh, Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Nam-mô Tây phương Cực Lạc Thế giói Đại từ Đại bi tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật. (c)
Nam-mô A Di Đà Phật. (108 lần) (c)
Nam-mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ-tát. (10 lần) (c)
Nam-mô Đại Lực Đai Thế Chí Bồ-tát. (10 lần) (c)
Nam-mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát. (10 lần) (c)
Nam-mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-tát. (10 lần) (C)
HỒI HƯỚNG
Đệ tử chúng đẳng, hiện thị sanh tử phàm phu, tội chướng thâm trọng, luân hồi lục đạo, khổ bất khả ngôn; kim ngộ tri thức, đắc văn A Di Đà danh hiệu, bổn nguyện công đức, nhứt tâm xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh, nguyện Phật từ bi bất xả, ai lân nhiếp thọ, đệ tử chúng đẳng, hất thức Phật thân, tướng hảo quang minh, nguyện Phật thị hiện, linh ngã đắc kiến, cập kiến Quan Âm Thế Chí, chư Bồ-tát chúng, bỉ thế giới trung, thanh tịnh trang nghiêm, quang minh diệu tướng đẳng, linh ngã liễu liễu đắc kiến A Di Đà Phật.
Ngã kim trì niệm A Di Đà Tức phát Bồ-đề quảng đại nguyện: Nguyện ngã định huệ tốc viên minh, Nguyện ngã công đức giai thành tựu Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm, Nguyện cộng chúng sanh thành Phật đạo Vãng tích sở tạo chư ác nghiệp,
Giai do vô thỉ tham sân si,
Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,
Nhứt thiết ngã kim giai sám hối. Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời, Tận trừ nhứt thiết chư chướng ngại, Diện kiến ngã Phật A Di Đà,
Tức đắc vãng sanh Cực Lạc sát.
Ngã ký vãng sanh Cực Lạc dĩ Hiện tiền thành tựu thử đại pguyện, Nhứt thiết viên mãn tận vô dư,
Lợi lạc nhứt thiết chúng sanh giới.
Ngã Phật chúng hội hàm thanh tịnh, Ngã thời ư thắng liên hoa sanh,
Thân đỗ Như Lai Vô Lượng Quang,
Hiện tiền thọ ngả Bồ-đề ký.
Mông ngã Như Lai thọ ký dĩ,
Hóa thân vô số bá câu chi,
Trí lực quảng đại biến thập phương,
Phổ lợi nhứt thiết chúng sanh giới.
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. Nguyện sanh Tây phương Tịnh Độ trung Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức,
Trang nghiêm Phật Tịnh Độ, Thượng báo tứ trọng ân,
Hạ tế tam đồ khổ.
Nhược hữu kiến văn giả,
Tức phát Bồ-đề tâm,
Tận thử nhứt báo thân,
Đồng sanh Cực Lạc quốc,
Tận thử nhứt báo thân,
Đồng sanh An Dưỡng quốc.
NGUYỆN
A Di Dà Phật, thường lai hộ trì, linh ngã thiện căn, hiện tiền tăng tấn, bất thất tịnh nhơn, lâm mạng chung thời, thân tâm chánh niệm, thị thính phân minh, diện phụng Di Đà, dữ chư Thánh chúng, thủ chấp kim đài, tiếp dẫn ư ngã.
Nhứt sát na khoảnh, sanh tại Phật tiền, cụ Bồ-tát đạo, quảng độ chúng sanh, đồng thành chủng trí.
Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô A Di Đà Phật Thế Tôn. ((Mỗi lời nguyện đều Chí tâm đảnh lễ... và lạy 1 lạy)
Nguyện ngã Tội chướng tất tiêu diệt. Nguyện ngã Thiện căn nhựt tăng trưởng. Nguyện ngã Thân tâm hàm thanh tịnh. Nguyện ngã Nhứt tâm tảo thành tựu. Nguyện ngả Tam muội đắc hiện tiền.
Nguyện ngã Tịnh nhơn tốc viên mãn. Nguyện ngã Liên đài tự tiêu danh. Nguyện ngã Kiến Phật ma đảnh ký. Nguyện ngã Dự tri mạng chung thời. Nguyện ngã Vãng sanh Cực Lạc quốc. Nguyện ngã Viên mãn Bồ-tát đạo. Nguyện ngã Quảng độ chư chúng sanh.
Chí tâm quy mạng đảnh lễ: Nam-mô Tây phương Cực Lạc thế giới Giáo chủ, Thọ Quang thể tướng vô lượng vô biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, Đại từ, Đại bi Tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Như Lai biến pháp
giới Tam Bảo. (C) (Lạy 1 lạy)
Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát Vô thượng tâm. (C) (Lạy 1 lạy)
Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải. (c) (Lạy 1 lạy)
Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại. (C) (1 lạy)
Nguyện đem công đức này, Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh,
Đều trọn thành Phật đạo. (C) (C) (C)
Cùng chuyên mục
Bài viết liên quan
30/11/2015
QUYỂN THỨ BẢY PHẨM “DIỆU TRANG NGHIÊM VƯƠNG BỔN SỰ" THỨ HAI MƯƠI BẢY
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA PHẨM “DIỆU TRANG NGHIÊM VƯƠNG BỔN SỰ THỨ HAI MƯƠI BẢY 1- Lúc bấy giờ, Phật bảo hàng đại chúng rằng: " Về thuở xưa, cách đây vô lượng vô biên bất khả tư nghì a-tăng-kỳ kiếp, có Đức Phật hiệu là Vân...
30/11/2015
QUYỂN THỨ BẢY PHẨM “ĐÀ LA NI” THỨ HAI MƯƠI SÁU
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA PHẨM “ĐÀ LA NI” THỨ HAI MƯƠI SÁU 1 - Lúc bấy giờ, Ngài Dược Vương Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, chắp tay hướng Phật mà bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiệ...
30/11/2015
QUYỂN THỨ BẢY PHẨM “QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN” THỨ HAI MƯƠI LĂM
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA PHẨM “QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN” THỨ HAI MƯƠI LĂM 1 - Lúc bấy giờ, Ngài Vô Tận Ý Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo, bày vai hữu, chắp tay hướng Phật mà bạch rằng: “Thế Tôn! Ngài Quan Thế...
30/11/2015
QUYỂN THỨ BẨY PHẨM “DIỆU ÂM BỒ TÁT” THỨ HAI MƯƠI BỐN
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA QUYỂN THỨ BẨY Đời Diêu Tần, ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vưng chiếu dịch KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA PHẨM “DIỆU ÂM BỒ TÁT” THỨ HAI MƯƠI BỐN 1 - Lúc bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật từ nhục kế...
