Buddha.com.vn

QUYỂN THỨ NĂM PHẨM “PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC" THỨ MƯỜI BẢY DPLH

27/11/2015

PHẨM “PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC" THỨ MƯỜI BẢY 1 - Lúc bấy giờ, trong đại hội nghe Phật nói thọ mạng, kiếp số dài lâu như thế, vô lượng, vô biên, vô số chúng sanh đặng lợi ích lớn. Khi đó, Đức Thế Tôn bảo Ngài Di Lặc Đại Bồ-tát:...

QUYỂN THỨ NĂM PHẨM “PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC" THỨ MƯỜI BẢY DPLH
Phần 1

PHẨM “PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC" THỨ MƯỜI BẢY
1 - Lúc bấy giờ, trong đại hội nghe Phật nói thọ mạng, kiếp số dài lâu như thế, vô lượng, vô biên, vô số chúng sanh đặng lợi ích lớn.
Khi đó, Đức Thế Tôn bảo Ngài Di Lặc Đại Bồ-tát: A Dật Đa! Lúc Ta nói Đức Như Lai thọ mạng dài lâu như thế, có sáu trăm tám muôn ức na-do-tha hằng hà sa chúng sanh đặng “Vô sanh pháp nhẫn”.
Lại có Đại Bồ-tát nghìn lần gấp bội đặng môn “Văn trì đà-la-ni”. Lại có một thế giới vi trần số Đại Bồ-tát đặng “Nhạo thuyết vô ngại biện tài”. Lại có một thế giới vi trần số Đại Bồ-tát đặng trăm nghìn muôn ức vộ lượng môn “Triền đà-la-ni”. Lại có tam thiên đại thiên thế giới vi trần số Đại Bồ-tát chuyển được “Pháp luân bất thối”.
Lại có nhị thiên trung quốc độ vi trần số Đại Bồ-tát chuyển được “Pháp luân thanh tịnh”. Lại có tiểu thiên quốc độ vi trần số Đại Bồ-tát tám đời sẽ đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có bốn Tứ thiên hạ vi trần số Đại Bồ-tát bốn đời sẽ đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có ba Tứ thiên hạ vi trần số Đại Bồ-tát ba đời sẽ đặng Vô thượng Chánh đẳng chánh giác. Lại có hai Tứ thiên hạ vi trần số Đại Bồ-tát hai đời sẽ đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có một Tứ thiên hạ vi trần số Đại Bồ-tát một đời sẽ đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại có tám thế giới vi trần số chúng sanh đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
2 - Lúc Đức Phật nói các vị Đại Bồ-tát đó đặng pháp lợi, trên giữa hư không rưới hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la để rải vô lượng trăm nghìn muôn ức các Đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cội cây báu, và rải Đức Thích Ca Mâu Ni Phật cùng Đức Đa Bảo Phật ngồi trên tòa sư tử trong tháp bảy báu, cùng rải tất cả các Đại Bồ-tát và bốn bộ chúng.
Lại rưới bột gỗ chiên đàn, trầm thủy hương v.v... trong hư không, trống trời tự kêu tiếng hay sâu xa.
Lại rải nghìn thứ thiên y, thòng các chuỗi ngọc, chuỗi ngọc chơn châu, chuỗi châu ma ni, chuỗi châu như ý khắp cả chín phương, các lò hương báu đốt hương vô giá, tự nhiên khắp đến cúng dường đại chúng.
Trên mỗi Đức Phật có các vị Bồ-tát nắm cầm phan lọng, thứ đệ mà lên đến trời Phạm Thiên. Các vị Bồ-tát đó dùng tiếng tăm hay, ca vô lượng bài tụng ngợi khen các Đức Phật.
Khi ấy, Ngài Di Lặc Bồ-tát từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, chắp tay hướng về phía Phật mà nói kệ rằng:
3 - Phật nói pháp ít có
Từ xưa chưa từng nghe
Thế Tôn có sức lớn
Thọ mạng chẳng thể lường.
Vô số các Phật tử
Nghe Thế Tôn phân biệt
Nổi đặng pháp lợi đó
Vui mừng đầy khắp thân
Hoặc trụ bậc Bất thối
Hoặc đặng đà-la-ni
Hoặc vô ngại nhạo thuyết
Muôn ức triền tổng trì
Hoặc có cõi đại thiên
Số vi trần Bồ-tát
Mỗi vị đều nói được
Pháp luân bất thối chuyển.
Hoặc có trung thiên giới
Số vi trần Bồ-tát
Mỗi vị đều có thể
Chuyển Pháp luân thanh tịnh.
Lại có tiểu thiên giới
Số vi trần Bồ tát
Còn dư lại tám đời
Sẽ đặng thành Phật đạo.
Lại có bốn, bai, hai
Tứ thiên hạ như thế
Số vi trần Bồ-tát
Theo số đời thành Phật.
Hoặc một Tứ thiên hạ
Số vỉ trần Bồ-tát
Còn dư có một đời
Sẽ thành Nhứt thiết trí.
Hàng chúng sanh như thế
Nghe Phật thọ dài lâu
Đặng vô lượng quả báo
Vô lậu rất thanh tịnh.
Lại có tám thế giới
Số vi trần chúng sanh
Nghe Phật nói thọ mạng
Đều phát tâm Vô thượng.
4 - Thế Tôn nói vô lượng
Bất khả tư nghị pháp
Nhiều được có lợi ích
Như hư không vô biên
Rưới hoa thiên mạn-đà
Hoa ma-ha mạn-đà
Thích, Phạm như hằng sa
Vô số cõi Phật đến
Rưới chiên đàn, trầm thủy
Lăng xăng loạn sa xuống
Như chim bay liệng xuống
Rải cúng các Đức Phật.
Trống trời trong hư không
Tự nhiên vang tiếng mầu,
Áo trời nghìn muôn thứ
Xoay chuyển mà rơi xuống
Các lò hương đẹp báu
Đốt hương quý vô giá
Tự nhiên đều cùng khắp
Cúng dường các Thế Tôn.
Chúng Đại Bồ-tát kia

Phần 2

Cầm phan lọng bảy báu
Cao đẹp muôn ức thứ
Thứ lớp đến Phạm Thiên,
Trước mỗi mỗi Đức Phật
Tràng báu treo phan tốt
Cũng dùng nghìn muôn kệ
Ca vịnh các Như Lai
Như thế các món việc
Từ xưa chưa từng có
Nghe Phật thọ vô lượng
Tất cả đều vui mừng
Phật tiếng đồn mười phương
Rộng lợi ích chúng sanh
Tất cả đủ căn lành
Để trợ tâm Vô thượng.
5 - Lúc bấy giờ, Phật bảo Ngài Di Lặc Đại Bồ-tát: “A Dật Đa! Có chúng sanh nào nghe Đức Phật thọ mạng dài lâu như thế, nhẫn đến có thể sanh một niệm tín giải, đặng công đức không hạn lượng được? Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong tám mươi muôn ức na-do-tha kiếp tu năm pháp Ba-la-mật: Bố thí Ba-la-mật, Trì giới Ba-la-mật, Nhẫn nhục Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mật, Thiền định Ba-la-mật, trổ Trí huệ Ba-la-mật, đem công đức này sánh với công đức tín giải trước, trăm phần, nghìn phần, trăm nghìn muôn ức phần chẳng kịp một, nhẫn đến tính đếm, thí dụ, không thể biết được. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn có công đúc như thế mà thối thất nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thời quyết không có lệ đó”.
Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
6 - Nếu người cầu huệ Phật.
Trong tám mươi muôn ức
Na-do-tha kiếp số
Tu năm Ba-la-mật
Ở trong các kiếp đó
Bố thí, cúng dường-phật
Và Duyên giác đệ tử
Cùng các chúng Bồ-tát,
Đồ uống ăn báu lạ
Thượng phục và đồ nằm
Chiên đàn dựng tinh xá
Dùng vườn rừng trang nghiêm
Bố thí như thế thảy
Các mán đều vi diệu
Hết các kiếp số này –
Để hồi hướng Phật đạo,
Nếu lại gìn cấm giới
Thanh tịnh không thiếu sót
Cầu nơi đạo Vô thượng
Được các Phật khen ngợi
Nếu lại tu nhẫn nhục
Trụ nơi chỗ điều nhu
Dầu các ác đến hại
Tâm đó chẳng khuynh động
Các người có được pháp
Cưu lòng tăng thượng mạn
Bị bọn này khinh não
Như thế đều nhẫn được
Hoặc lại siêng tinh tấn
Chí niệm thường bền vững
Trong vô lượng ức kiếp
Một lòng chẳng trễ thôi.
Lại trong vô số kiếp
Trụ nơi chỗ vắng vẻ
Hoặc ngồỉ hoặc kinh hành
Trừ ngủ, thường nhiếp tâm
Do các nhơn duyên đó
Hay sinh các thiền định,
Tám mươi ức muôn kiếp
An trụ tâm chẳng loạn
Đem phước thiền định đó
Nguyện cầu đạo Vô thượng.
Ta đặng Nhứt thiết trí
Tận ngằn các thiền định
Người đó trong trăm nghìn
Muôn ức kiếp số lâu
Tu các công đức này
Như trên đã nói rõ.
Có thiện nam, tín nữ.
Nghe Ta nói thọ mạng
Nhẫn đến một niệm tin
Phước đây hơn phước kia
Nếu ngườỉ trọn không có
Tất cả các nghi hối
Thân tâm giây lát tin
Phước đó nhiều như thế.
Nếu có các Bồ-tát
Vô lượng kiếp hành đạo
Nghe ta nói thọ mạng
Đây thời tin nhận được
Các hạng người như thế
Đảnh thọ kinh điển này.
Nguyện ta thuở vị lai
Sống lâu độ chúng sanh
Như Thế Tôn ngày nay
Vua trong các họ Thích
Đạo tràng rền tiếng lớn
Nói pháp không sợ sệt
Chúng ta đời vị lai

Phần 3

Được mọi người tôn kính
Lúc ngồi nơi đạo tràng
Nói thọ mạng cũng thế,
Nếu có người thâm tâm
Trong sạch mà ngay thực
Học rộng hay tổng trì
Tùy nghĩa giải lời Phật
Những người như thế đó
Nơi đây không có nghi.
7 - Lại, A Dật Đa! Nếu có người nghe nói Đức Phật thọ mạng dài lâu, hiểu ý thú của lời nói đó, người này đặng công đức không có hạn lượng, có thể sanh huệ vô thượng của Như Lai. Huống là người rộng nghe kinh này, hoặc bảo người nghe, hoặc tự thọ trì, hoặc bảo người thọ trì, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, hoặc đem hoa hương, chuỗi ngọc, tràng phan, lọng nhiễu, dầu thơm, đèn nến cúng dường kinh quyển, công đức của người này vô lượng vô biên, có thể sanh Nhứt thiết chủng trí.
A Dật Đa! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn nghe Ta nói thọ mạng dài lâu, sanh lòng tin hiểu chắc, thời chính là thấy Đức Phật thường ở núi Kỳ-xà-quật, cùng chúng Bồ-tát lớn và hàng Thanh văn vây -quanh nói pháp, Lại thấy cõi Ta-bà này đất bằng lưu ly, ngang liền bằng phẳng, dây vàng diêm-phù-đàn để ngăn tám nẻo đường, cây báu bày hàng, các đài lầu nhà thảy đều các thứ báu hiệp thành, chúng Bồ-tát đều ở trong đó. Nếu có người tưởng quán được như thế phải biết đó là tướng tin hiểu sâu chắc.
• Và lại sau Đức Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh này mà không chê bai, sanh lòng tùy hỷ, phải biết đó đã là tướng tin hiểu sâu chắc, huống là người đọc tụng, thọ trì kinh này, người này thời là kẻ đầu đội Đức Như Lai.
A Dật Đa! Thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn đó chẳng cần lại vì Ta mà dựng chùa tháp, và cất tăng phường, dùng bốn sự cúng dường để cúng dường chúng Tăng. Vì sao? Vì thiện nam tử, thiện nữ nhơn đó thọ trì, đọc tụng kinh điển này thời là đã dựng tháp, tạo lập tăng phường cúng dường chúng Tăng, thời là đem xá-lợi của Phật dựng tháp bảy báu cao rộng nhỏ lần lên đến trời Phạm Thiên, treo các phan lọng và các linh báu, hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, các trống, kỹ nhạc, ống tiêu, ống địch, không hầu, các thứ múa chơi, dùng tiếng giọng tốt ca ngâm khen ngợi, thời là ở trong vô lượng nghìn muôn ức kiếp đã làm việc-cúng dường đó rồi.
A Dật Đa! Nếu sau khi Ta diệt độ, nghe kinh điển này, có người hay thọ trì, hoặc tự chép hoặc bảo người chép, đó là dựng lập Tăng phường, dùng gỗ chiên đàn đỏ làm các cung điện, nhà cửa ba mươi hai sở, cao bằng tám cây cao rộng nghiêm đẹp, trăm nghìn Tỳ-kheo ở nơi trong đó. vườn, rừng, ao tắm, chỗ kinh hành, hang ngồi thiền, y phục, đồ uống ăn, giường nệm, thuốc thang, tất cả đồ vui dẫy đầy trong đó, tăng phường có ngần ấy trăm nghìn muôn ức nhà gác như thế, số đó nhiều vô lượng, dùng để hiện tiền cúng dường nơi Ta và Tỳ-kheo Tăng.
Cho nên Ta nói: Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có người thọ trì, đọc tụng, vì người khác nói, hoặc mình chép hoặc bảo người chép, cúng dường kinh quyển thời chẳng cần lại dựng chùa tháp và tạo lập Tăng phường cúng dường chúng Tăng. Huống lại có người hay thọ trì kinh này mà gồm tu hành Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Nhứt tâm, Trí huệ, công đức của người ấy rất thù thắng, vô lượng vô hiên.
Thí như hư không, Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phía, trên, dưới vô lượng vô biên, công đức của người đó cũng lại như thế, vô lượng vô biên, mau đến bậc Nhứt thiết chủng tri. Nếu có người đọc tụng, thọ trì kinh này vì người khác nói, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, lại có thể dựng tháp cùng tạo lập Tăng phường, cúng dường, khen ngợi chúng Thanh văn Tăng, cũng dùng trăm nghìn muôn pháp ngợi khen mà ngợi khen công đức của Bồ-tát.
Lại vì người khác dùng các món nhơn duyên, theo nghĩa giải nói Kinh Pháp Hoa nàyr lại có thể thanh tịnh trì giới, cùng người nhu hòa mà chung cùng ở, nhẫn nhục không sân, chí niệm bền vững, thường quý ngồi thiền, đặng các món định sâu, tinh tấn mạnh mẽ, nhiếp các pháp lành, căn lành trí sáng, giỏi gạn hỏi đáp.
A Dật Đa! Nếu sau khi Ta diệt độ, các thiện nam tử, thiện nữ nhơn thọ trì, đọc tụng kinh điển này lại có các công đức lành như thế, phải biết người đó đã đến đạo tràng, gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ngồi dưới cội đạo thọ.
A Dật Đa Chỗ của thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn đó hoặc ngồi, hoặc đứng, hoặc đi, trong đó bèn nên xây tháp, tất cả trời, người đều phải cúng dường như tháp của Phật.
Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:
8 - Sau khi Ta diệt độ
Hay phụng trì kinh này
Người đó phước vô lượng
Như trên đã nói rõ.
Đó thời là đầy đủ
Tất cả các cúng dường
Dùng xá-lợi xây tháp
Bảy báu để trang nghiêm.
Chùa chiền rất cao rộng
Nhỏ lần đén Phạm Thiên
Linh báu nghìn muôn ức
Gió động vang tiếng màu,
Lại trong vô lượng kiếp
Mà cúng dường tháp đó
Hoa, hương, các chuỗi ngọc
Thiên y, các kỹ nhạc
Thắp đèn dầu nến thơm
Quanh khắp thường soi sáng,
Lúc đời ác mạt pháp
Người hay trì kinh này
Thời là đã đầy đủ
Các cúng dường như trên.
Nếu hay trì kinh này
Thời như Phật hiện tại
Dùng ngưu đầu, chiên đàn
Dựng Tăng phường cúng dường
Nhà ba mươi hai sở
Cao tám cây đa-la
Đồ ngon y phục tốt
Giường nằm đều đầy đủ.
Trăm nghìn chúng nương ở,
Vườn rừng, các ao tắm
Chỗ kinh hành, ngồi thiền
Các món đều nghiêm tốt.
Nếu có lòng tín hiểu
Thọ trì, đọc tụng, biên
Nếu lại bảo người biên
Và cúng dường kinh quyển.
Rải hoa hương, hương bột
Dùng tu-mạn, chiêm-bặc
A-đề, mục-đa-dà

Phần 4
Ướp dầu thường đốt đó
Người cúng dường như thế
Đặng công đức vô lượng
Như hư không vô biên
Phước đó cũng như thế.
Huống lại trì kinh này
Gồm bố thí, trì giói,
Nhẫn nhục ưa thiền định
Chẳng sân, chẳng ác khẩu
Cung kính nơi tháp miếu
Khiêm hạ các Tỳ-kheo
Xa lìa tâm tự cao
Thường nghĩ suy trí huệ,
Có gạn hỏi chẳng sân
Tùy thuận -vì giải nói'
Nếu làm được hạnh đó
Công đức chẳng lường được.
Nếu thấy Pháp sư này
Nên công đức như thế
Phải dùng hoa trời rải
Áo trời trùm thân kia
Đầu mặt tiếp chân lạy
Sanh lòng tưởng như Phật,
Lại nên nghĩ thế này:
Chẳng lâu đến đạo thọ
Đặng vô lậu vô vi
Rộng lợi các người trời
Chỗ trụ chỉ của kia
Kinh hành hoặc ngồi nằm
Nhẫn đến nói một kệ
Trong đây nên xây tháp
Trang nghiêm cho tốt đẹp,
Các món đem cúng dường,
Phật tử ở chỗ này
Thời là Phật thọ dụng
Thường ở nơi trong đó
Kinh hành và ngồi nằm.

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
QUYỂN THỨ NĂM

Toan cầu an lạc, bốn pháp bền tu. Thân đậng “Kế châu” nổi tiếng nhà. Ba cõi bãi đao binh. Bổn và tích đều rõ, sa giới chứng ngộ vô sanh.
Nam-mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ-tát. (3 lần) (c)
Đức Văn Thù khải giáo, vừa giúp chơn thuyên, bền giữ bốn pháp được an nhiên, từ đất vọt lên chúng nhiều nghìn, Ngài A Dật Đa trùng tuyên, thọ lượng rộng vô biên.
Nam-mô A Dật Đa Bồ-tát. (3iần)(c)
Phần 5

THÍCH NGHĨA

1-1*. Thật tướng các pháp: Rời tất cả tướng có, không... gọi tà “thật tướng” (tướng chơn thật), vì tất cả tướng có, không... đều là hư dối cả.
Ni-kiền-tử: Lõa hình ngoại đạo (đạo ở trần truồng) cũng gọi là: “Vô tàm ngoại đạo” (đạo không biết hổ thẹn).
Lộ-già-da-đà: Phái thuận thế ngoại đạo (đạo thuận theo thế tục). Nghịch Lộ-già-da-đà: Phái nghịch thế ngoại đạo (đạo chống trái với thuận thế ngoại đạo).
Na-la: Người múa hát.
Bất nam: Chẳng phải thật đàn ông, như người lại cái kẻ không nam căn... (có chỗ gọi là huỳnh môn).
Chiên-đà-la: Kẻ đồ tể, quân đao phủ.
Chuyển Luân Thánh vương, có bốn:
1. Thiết Luân vương (cai trị 1 châu thiên hạ)
2. Đồng Luân vương (cai trị 2 châu thiên hạ)
3. Ngân Luân vương (cai trị 3 châu thiên hạ)
4. Kim Luân vương (cai trị 4 châu thiên hạ)
Vì phước nghiệp đời trước nên khi lên ngôi vua, có xe báu tự nhiên, hoặc bằng sắt, đồng, bạc, vàng hiện ra. Vua ngồi trên xe đó mà đi tuần, hay dẹp giặc trong cõi mình cai trị nên gọi là “Chuyển Luân Thánh Vương”.
Phiền não ma: sắc, thọ, tưởng, hành, thức, năm ấm hay làm khổ hại nên gọi là ma. Các lòng tham, sân, dục, nghi v.v... thường làm rối rắm, phiền muộn rất khổ hại nên gọi là ma.
9. A Dật Đa: Tên của Di Lặc Bồ-tát, Trung Hoa dịch là “Vô Năng Thắng”, còn Di Lặc là họ, dịch là “Từ thị”. Sau khi giáo pháp của Đức Thích Ca diệt, mãn Tiểu kiếp thứ 9, qua Tiểu kiếp thứ 10, thời kỳ kiếp giảm người thọ 80.000 tuổi, Đức Di Lặc Bồ-tát hiện thân thành Phật ở cõi này hiệu là “Di Lặc Phật”.
10. Tam muội: Là tiếng Phạn, dịch là “Chánh định”. Mới vào cõi định gọi là “nhập”, ở trong cõi định gọi là “trụ”, từ cõi định dậy gọi là “xuất”.
11. Kinh phương: Những sách nói về phương pháp trị bịnh.
12. Vô sanh Pháp nhẫn: Sức trí nhận chắc nơi thể Vô sanh của các pháp.
13. Đà-la-ni: Là tiếng Phạn, dịch là “tổng trì”. Được môn Văn trì đà-la-ni này thời nghe pháp đều có thể hiểu nhớ tất cả.
14. Vô biện tài: Đặng môn này thời ưa thích nói pháp không nhàm, không trệ ngại, tài biện luận vô tận.
15. Tứ châu thiên hạ: Ngoài bốn phía núi Tu di, trong biển “Đại Hàm hải” có các châu: 1. Đông Thắng Thần châu; 2. Tây Ngưu Hóa châu, 3. Bắc Cu Lô châu; 4. Nam Thiệm Bộ châu, cũng gọi Nam Diêm-phù-đề, chính là cõi đất chúng ta hiện ở.
16. Pháp lợi: Vì nhơn duyên nghe pháp mà đặng lợi ích.

Cùng chuyên mục

Bài viết liên quan

Xem chuyên mục